vanban.org

Bản án 07/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 16/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Đức T phạm tội "Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi".

Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Đức T 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/7/2023. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586, 592- Bộ luật dân sự năm 2015: Xác nhận thỏa thuận trước khi mở phiên tòa giữa bị cáo và bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, bị cáo phải bồi thư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T phạm tội Giao cấu với người từ đủ13 tuổi đến dưới 16 tuổi - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Đức T phạm tội "Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THƢỜNG TÍN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------
Bản án số: 07/2024/HSST
Ngày: 16/01/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƢỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Minh Khương - Nghề nghiệp: cán bộ Đoàn thanh niên.

2. Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Nghề nghiệp: cán bộ phòng tài chính kế hoạch- UBND huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

Thƣ ký phiên toà: Bà Vũ Hà Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thƣờng Tín tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Hằng -Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 140/2023/TLST-HS ngày 21/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T -Sinh ngày 07 tháng 03 năm 2002, tại Hà Nội; Nơi thường trú: thôn Trung L, xã Tri T1, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị T2; là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, Tiền sự: không (theo danh chỉ bản số 291 ngày 11/7/2023); Bị cáo tạm giữ ngày 02/7/2023; tạm giam ngày 11/7/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Văn T2, luật sư Công ty Luật TNHH VIETVALUE, đoàn luật sư Thành phố Hà Nội; Trụ sở: số 37 phố Xuân Q, phường Trung H, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (có mặt)

- Bị hại: Cháu Đỗ Thị Diệu L, sinh ngày 09/3/2008 (có đơn xét xử vắng mặt)

Trú tại: thôn Triều K, xã Đội B, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội.

-Người đại diện của bị hại:

1/ Bà Lê Thị Tuyến, sinh năm 1989 (mẹ đẻ cháu L).

2/ Ông Đỗ Văn Mạnh, sinh năm 1984 (bố đẻ cháu L).

Cùng trú tại: thôn Triều K, xã Đội B, huyện Ứng Hòa, Hà Nội.

(Bà Tuyến, ông Mạnh có đơn xét xử vắng mặt)

- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Đỗ Thị Thào, trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1980; Trú tại: thôn Trung L, xã Tri T1, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11 năm 2022, Nguyễn Đức T có quen biết cháu Đỗ Thị Diệu L qua mạng xã hội Facebook. Sau đó giữa T và L nảy sinh tình cảm yêu đương và có quan hệ tình dục với nhau 03 lần đều tại nhà nghỉ Hương S, địa chỉ tại số 6, phố Đầm S, thôn Bình L, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Những lần quan hệ tình dục thì cả hai sử dụng điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh cô ban của T để quay lại. Khi đó T biết L là người chưa thành niên, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: khoảng 15 giờ ngày 06/5/2023, Nguyễn Đức T đón cháu Đỗ Thị Diệu L đi chơi uống nước rồi rủ L đi nhà nghỉ quan hệ tình dục, cháu L đồng ý. Sau đó T chở L đến nhà nghỉ Hương S thuê phòng số 204, khi vào bên trong T và L tự cởi bỏ quần áo đang mặc rồi nằm trên giường ôm hôn nhau. T dùng tay sờ ngực, mông và dùng ngón tay chọc vào âm đạo của cháu L thì thấy dương vật đã cương cứng nên T lấy bao cao su có sẵn ở trong phòng đeo vào dương vật. T quỳ ở giữa hai chân cháu L đang nằm ở tư thế ngửa đưa dương vật vào trong âm đạo cháu L, đưa ra đưa vào được khoảng 03 phút thì T xuất tinh nên T rút dương vật ra và tháo bao cao su vứt vào thùng rác. T và cháu L nằm ôm nhau một lúc rồi trả phòng đi về.

Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ ngày 10/5/2023, T đón cháu L đi nhà nghỉ để quan hệ tình dục, cháu L đồng ý. T chở cháu L đến nhà nghỉ Hương S thê phòng số 303. Khi vào bên trong T và cháu L nằm ôm hôn nhau rồi tự cởi bỏ quần áo đang mặc. T dùng tay xoa ngực cháu L, khi thấy dương vật đã cương cứng thì T lấy bao cao su có sẵn ở trong phòng tự đeo vào dương vật. T quỳ ở giữa hai chân cháu L đang nằm ngửa để đưa dương vật vào âm đạo của cháu L, đưa ra đưa vào được khoảng 05 phút thì đổi tư thế. Cháu L nằm sấp ở trên giường để T ở phía sau đưa dương vật vào âm đạo, đưa ra đưa vào được khoảng 03 phút thì T xuất tinh. T rút dương vật ra và tháo bao cao su vứt vào thùng rác rồi nằm ôm cháu L, sau đó cả hai trả phòng rồi đi về.

Lần thứ ba: Khoảng 15 giờ ngày 20/6/2023, T đón cháu L đi nhà nghỉ để quan hệ tình dục, cháu L đồng ý. T chở cháu L đến nhà nghỉ Hương S thê phòng số 201. Khi vào bên trong T và cháu L nằm ôm hôn nhau rồi tự cởi bỏ quần áo đang mặc. T dùng tay xoa ngực cháu L, dùng lưỡi kích thích vào bộ phận sinh dục của cháu L. Cháu L dùng tay cầm dương vật của T để kích thích cho cương cứng. Khi thấy dương vật đã cương cứng thì T lấy bao cao su có sẵn ở trong phòng tự đeo vào dương vật rồi quỳ ở giữa hai chân cháu L đang nằm ngửa trên giường để đưa dương vật vào âm đạo cháu L, đưa ra đưa vào được khoảng 03 phút thì đổi tư thế. T nằm ngửa ở trên giường còn cháu L nằm phía trên cầm dương vật cho vào âm đạo, đưa ra đưa vào được khoảng 05 phút thì tiếp tục đổi tư thế, cháu L quỳ chống tay trên giường để T ở phía sau đưa dương vật vào trong âm đạo, đưa ra đưa vào được khoảng 05 phút thì T xuất tinh. T tháo bao cao su vứt vào thùng rác rồi nằm ôm cháu L, sau đó cả hai trả phòng rồi đi về.

Ngày 01/7/2023, chị Lê Thị Tuyến là mẹ đẻ cháu L đến trình báo Công an huyện Thường Tín do biết việc T có quan hệ tình dục đối với cháu L.

Tang vật thu giữ: 01 USB nhãn hiệu SanDisk bên trong có lưu ba file video quay lại việc Nguyễn Đức T quan hệ tình dục với cháu Đỗ Thị Diệu L; 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh cô ban.

Tại bản kết luận giám định số 4936/KL-KTHS ngày 05/5/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận:

+ Âm hộ, âm đạo, tầng sinh môn của cháu Đỗ Thị Diệu L tại thời điểm giám định không tổn thương.

+Màng trinh của cháu Đỗ Thị Diệu L tại thời điểm giám định rách cũ vị trí 06 giờ.

+Các phần còn lại trên cơ thể không có dấu vết thương tích.

+Tại thời điểm giám định cháu Đỗ Thị Diệu L không có thai.

+Xét nghiệm HIV, HbsAg đối với cháu Đỗ Thị Diệu L tại thời điểm giám định: Âm tính.

Tại bản kết luận giám định số 7048/KL-KTHS ngày 23/10/2023:

+Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video gửi giám định.

+Không xác định được file video gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh hay không (do file video xuất hiện nhiều hình: trái tim, mặt cười… nhưng không xác định được nguyên nhân).

Tại bản cáo trạng số 135/CT-VKSTT ngày 20/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố Nguyễn Đức T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi" theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 - Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

+Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố đúng hành vi bị cáo đã thực hiện, thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại số tiền là 20.000.000 đồng.

+Người bào chữa cho bị cáo: Bị cáo là thanh niên mới lớn, hiểu biết pháp luật hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng đối với bị cáo, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

+Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tâm sinh lý của bị hại, tuy nhiên bị hại và đại diện của bị hại và gia đình bị cáo đã đã thỏa thuận xong về việc bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

+Bà T3: số tiền bồi thường dân sự 30.000.000 đồng là tiền của bị cáo và của bà, tuy nhiên bà không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên.

+Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Đức T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54- Bộ luật Hình sự năm 2015 và đề nghị:

+Xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2023.

+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại và người đại diện của bị hại thống nhất thỏa thuận bị cáo bồi thường cho bị hại là 30.000.000 đồng. Bị hại đã được nhận bồi thường là 20.000.000 đồng. Đối với số tiền 10.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín trả lại cho bị hại.

+Về xử lý vật chứng: Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh cô ban, đã qua sử dụng đã thu giữ của T.

+Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Nguyễn Đức T và cháu Đỗ Thị Diệu L có quan hệ tình cảm yêu đương nam nữ, T biết cháu L là người chưa thành niên nhưng ba lần có quan hệ tình dục với cháu L tại nhà nghỉ Hương S thuộc thôn Bình L, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Những lần T quan hệ tình dục với cháu L đều trên cơ sở thuận tình của cháu L, thời điểm này cháu L 15 tuổi 02 tháng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145- Bộ luật Hình sự năm 2015.Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em trong độ tuổi từ 13 đến dưới 16 tuổi nên cần áp dụng pháp luật hình sự để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, sau khi phạm tội ra đầu thú, bị hại và gia đình bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người đã trưởng thành (21 tuổi), bị hại mặc dù có tình cảm yêu đương với bị cáo nhưng ở lứa tuổi hạn chế về nhận thức và kinh nghiệm sống nên việc quyết định tình dục không được đúng đắn, dễ cảm tình, bị rủ rê. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho sự phát triển bình thường cả thể chất và sinh lý của bị hại hiện tại cũng như sau này nên cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54- Bộ luật hình sự quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo cũng đủ để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại, người đại diện của bị hại thống nhất thỏa thuận bị cáo phải bồi thường dân sự cho bị hại là 30.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 theo biên lai số 0018065 ngày 26/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội để bồi thường khắc phục hậu quả. Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại số tiền là 20.000.000 đồng. Do đó trả lại cho bị hại là cháu Đỗ Thị Diệu L số tiền là 10.000.000 đồng đang tạm giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

Đối với nhà nghỉ Hương S, chủ nhà nghỉ đã không thực hiện đầy đủ quy trình kiểm tra, lưu trữ thông tin của khách đến lưu trú. Vi phạm quy định tại điểm m khoản 2 Điều 12 nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 nên Công an huyện Thường Tín đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

+ 01 USB nhãn hiệu SanDisk bên trong có lưu ba file video quay lại việc Nguyễn Đức T quan hệ tình dục với cháu Đỗ Thị Diệu L tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án

+ 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh cô ban, đã qua sử dụng thu giữ của T liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu phát mại, sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 - Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a, g khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa nên không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã tự nguyện nộp.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333- Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 - Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1.Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Đức T phạm tội "Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi".

2.Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Đức T 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/7/2023.

3.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586, 592- Bộ luật dân sự năm 2015: Xác nhận thỏa thuận trước khi mở phiên tòa giữa bị cáo và bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, bị cáo phải bồi thường dân sự cho bị hại số tiền là 30.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường số tiền là 20.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 đồng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội để bồi thường, do đó trả lại cho cháu Đỗ Thị Diệu L số tiền là 10.000.000 đồng theo biên lai số 0018065 ngày 26/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47- Bộ luật hình sự; Điều 106- Bộ luật tố tụng hình sự

+Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án 01 USB nhãn hiệu SanDisk bên trong có lưu ba file video quay lại việc Nguyễn Đức T quan hệ tình dục với cháu Đỗ Thị Diệu L.

+ Tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh cô ban, đã qua sử dụng (thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 23/11/2023).

5.Về án phí: Căn cứ Điều 136 - Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a , c khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

6.Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333- Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại và người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

7. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ