- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Văn San và đồng bọn phạm tội: "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản" - phạm tội vi phạm các quy định v…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S, Đinh X, Đinh Văn K, Đoàn Văn M và Đinh Văn Th phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 232 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN K TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2024/HSST Ngày: 15/3/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Ch t a phiên tòa: Ông Phan Huy Viễn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thị Tuyết M.
2. Ông Siu D.
- Th ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn T, Thư ký T a án nh n d n huy n K, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn T - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n K, tỉnh Gia Lai mở phiên t a xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2023/HSST, ngày 13 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 01 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 01/2024/HSST-QĐ, ngày 23/02/2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn S (tên gọi khác là M), sinh ngày 12/01/1995 tại huy n Đ, tỉnh Gia Lai,
Nơi cư trú: Làng K, xã Y, huy n Đ, tỉnh Gia Lai;
Nghề nghi p: Làm nông; trình độ văn hóa: 09/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam;
Con ông Nguyễn Hữu T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958;
Bị cáo có vợ là Đinh Thị P, sinh năm 1997 và 01 con sinh năm 2016, hi n đều đang cư trú tại: Làng K, xã Y, huy n Đ, tỉnh Gia Lai.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nh n th n: Tốt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/10/2022 đến ngày 25/5/2023 được tại ngoại, có mặt tại phiên t a.
2. Đinh X, sinh ngày 31/12/1992 tại huy n Đ, tỉnh Gia Lai.
Nơi cư trú: Làng B, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai;
Nghề nghi p: Làm nông; trình độ văn hóa: 0/12; d n tộc: Bahnar; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam;
Con ông Đinh L (đã chết) và bà Đinh Thị H, sinh năm 1961;
Bị cáo có vợ là Đinh Thị D, sinh năm 1990 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2017, hi n đều đang cư trú tại: Làng B, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nh n th n: Tốt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/10/2022 đến ngày 25/5/2023 được tại ngoại, có mặt tại phiên t a.
3. Đoàn Văn M, sinh ngày 08/02/1996 tại huy n V, tỉnh Bình Định.
Nơi cư trú: Làng K, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghi p: Làm nông; trình độ văn hóa: 03/12; d n tộc: Bahnar; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam;
Con ông Đoàn Văn L, sinh năm 1975 và bà Đinh Thị M, sinh năm 1977;
Bị cáo có vợ là chị Đinh Thị Nh, sinh năm 1995 và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2021, hi n đều đang cư trú tại: Làng K, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nh n th n: Tốt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/10/2022 đến ngày 05/4/2023 được tại ngoại, có mặt tại phiên t a.
4. Đinh Văn K, sinh ngày 15/3/2000 tại huy n K, tỉnh Gia Lai.
Nơi cư trú: Làng B, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghi p: Làm nông; trình độ văn hóa: 05/12; d n tộc: Bahnar; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam;
Con ông Đinh Văn K, sinh năm 1964 và bà Đinh Thị Kh, sinh năm 1968;
Bị cáo có vợ là chị Đinh Thị H, sinh năm 1995 và có 01 con sinh năm 2014, hi n đều đang cư trú tại: Làng B, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nh n th n: Tốt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/10/2022 đến ngày 05/4/2023 được tại ngoại, có mặt tại phiên t a.
5. Đinh Văn Th, sinh ngày 20/10/2002 tại huy n K, tỉnh Gia Lai.
Nơi cư trú: Làng B, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai;
Nghề nghi p: Làm nông; trình độ văn hóa: 09/12; d n tộc: Bahnar; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam.
Con ông Đinh Văn L; sinh năm 1959 và bà Đinh Thị Ư, sinh năm 1972.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nh n th n: Tốt.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên t a.
- Ngƣời bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn S, Đinh X, Đoàn Văn M và Đinh Văn K: Ông Nguyễn Thành Tr – Trợ giúp viên pháp lý của Trung t m Trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh Gia Lai – có mặt.
- Ngƣời bào chữa cho bị cáo Đinh Văn Th: Ông Nguyễn Công Tr – Trợ giúp viên pháp lý của Trung t m Trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh Gia Lai – có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH MTV Lâm nghi p K;
Địa chỉ: Thôn 2, xã K, huy n K, tỉnh Gia Lai
Người đại di n theo pháp luật là ông Lê Văn Th, Giám đốc Công ty – có mặt.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1984; Trú tại: Thôn 2, xã Y, huy n Đ, tỉnh Gia Lai – có mặt.
2. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1992; Trú tại: Thôn 2, xã Y, huy n Đ, tỉnh Gia Lai – có mặt.
3. Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1982; Trú tại: Làng K, xã Y, huy n Đ, tỉnh Gia Lai – văng mặt.
4. Ông Đinh D, sinh năm 1978; Trú tại: Làng K, xã Y, huy n Đ, tỉnh Gia Lai – vắng mặt.
5. Anh Đinh G, sinh năm 1986; Trú tại: Làng K, xã Y, huy n Đ, tỉnh Gia Lai – có mặt.
6. Anh Đinh Văn Th, sinh năm 1996; Trú tại: Làng K, xã Y, huy n Đ, tỉnh Gia Lai – có mặt.
7. Anh Đinh Văn B, sinh năm 1991; Trú tại: Làng B, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai – có mặt.
8. Anh Lê Hoài H, sinh năm 1995; Trú tại: Tổ 6, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai – có mặt.
9. Anh Kpă N, sinh năm 1998; Trú tại: Làng B, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai – có mặt.
10. Anh Đinh Văn X, sinh năm 1998; Trú tại: Làng B, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai – có mặt.
11. Anh Đinh O, sinh năm 1996; Trú tại: Làng B, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai – có mặt.
12. Anh Đinh Văn H, sinh năm 1995; Trú tại: Làng B, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai – có mặt.
13. Anh Đinh Văn B, sinh năm 1997; Trú tại: Làng B, xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai – có mặt.
- Ngƣời phiên dịch:
1. Người phiên dịch tiếng Bahnar: Ông Đinh Văn B – có mặt.
2. Người phiên dịch tiếng Jarai: Ông Đinh Văn A – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau: Trong khoảng thời gian từ tháng 03 năm 2020 đến tháng 07 năm 2022, Nguyễn Văn B đã thuê Nguyễn Văn S (em trai của B), Đinh X, Đoàn Văn M, Đinh Văn K và Đinh Văn Th lên rừng tại các vị trí ở tiểu khu 750 và 752 thuộc xã Đ, K, lâm phần do Công ty TNHH MTV l m nghi p K quản lý để khai thác gỗ trái phép. Quá trình khai thác gỗ B là người trực tiếp dùng cưa lốc hạ các c y gỗ rồi chỉ dẫn cho S, X dùng cưa lốc xẻ hộp theo yêu cầu của B. Các đối tượng c n lại dọn đường, kẻ mực để xẻ gỗ hộp, phụ khiêng các lóng gỗ, lật gỗ, tời gỗ từ dưới vực lên trên đường, sau khi khai thác gỗ xong các đối tượng vận chuyển gỗ về nơi tập kết cho B. Ngoài ra c n có Huỳnh Thị S (là vợ của B) cũng theo B lên rừng đi hái nấm và lấy phong lan rừng có nấu cơm cho B và phụ kẻ mực và dọn cành c y cùng B. Sau khi khai thác xong và kéo gỗ về vị trí tập kết, Nguyễn Văn B thuê các đối tượng KPã N, Đinh Văn Th, Đinh G, Đinh D, Nguyễn Văn Ph, Nguyễn Văn H và Đinh Văn B cùng với Nguyễn Văn S, Đinh X, Đoàn Văn M, Đinh Văn K và Đinh Văn Th vận chuyển gỗ về khu vực làng C, xã Y, huy n Đ để bán. Các đối tượng tham gia cùng B cưa hạ c y, dọn đường, kẻ mực để xẻ gỗ hộp, phụ khiêng các lóng gỗ, lật gỗ, tời gỗ từ dưới vực lên trên đường thì B trả tiền một ngày là 300.000 đồng, các đối tượng vận chuyển gỗ mỗi chuyến B trả 400.000 đồng.
Kết quả khám nghi m hi n trường xác định: Tại lô 1 khoảnh 10 tiểu khu 750; lô 1 khoảnh 5; lô 16 khoảnh 2, lô 2 khoảnh 4 tiểu khu 752, xã Đ, huy n K, l m phần do Công ty TNHH MTV l m nghi p K quản lý có 129 c y gỗ bị khai thác trái phép, chủng loại Xoay, Trám, Giẻ, Thông Nàng, Thông Tre, Sơn huyết, Kiền kiền, Giổi từ nhóm I đến nhóm V thuộc gỗ thông thường, trạng thái Rừng thường xanh trung bình. Tổng khối lượng gỗ thi t hại là 153,177m3.
Nguyễn Văn B và các đối tượng đã khai thác 63 c y gỗ chủng loại Xoay, Trám, Giẻ, Thông Nàng, Thông Tre, Sơn huyết, Kiền kiền, Giổi từ nhóm I đến nhóm V thuộc gỗ thông thường với khối lượng gỗ thi t hại 84,045m3. Trong đó Đinh X cùng tham gia khai thác 42 c y gỗ với khối lượng 61,905m3; Nguyễn Văn S cùng tham gia khai thác 39 c y gỗ với khối lượng 58,292m3; Đinh Văn K cùng tham gia khai thác 25 c y với khối lượng 39,011m3; Đoàn Văn M cùng tham gia khai thác 16 c y gỗ với khối lượng 28,494m3; Đinh Văn Th cùng tham gia khai thác gỗ cùng với B 09 c y với khối lượng 15,264m3; Huỳnh Thị S cùng tham gia khai thác 02 c y gỗ với tổng khối lượng gỗ bị thi t hại là 1,127m3; KPã N cùng tham gia khai thác 02 c y gỗ với khối lượng khối lượng gỗ bị thi t hại là 3,009m3; Nguyễn Văn H tham gia cùng B đã tham gia khai thác 01c y gỗ với khối lượng gỗ bị thi t hại 1,589m3.
Bản kết luận giám định tư pháp ngày 25/12/2022 của Sở Nông nghi p và Phát triển nông thôn Gia Lai xác định giá trị phải bồi thường đối với rừng tự nhiên của đối với 129 cây gỗ bị khai thác trái phép với tổng khối lượng gỗ 153,177m3, thuộc trạng thái rừng lá rộng thường xanh trung bình (TXB), loại rừng sản xuất, tại tiểu khu 750 và 752 là 1.810.049.658 đồng. Trong đó giá trị phải bồi thường đối với 63 cây gỗ các loại với khối lượng 84,045m3 mà Nguyễn Văn B, Đinh X, Nguyễn Văn S, Đoàn Văn M, Đinh Văn K, Đinh Văn Th khai thác trái phép là 1.083.310.392 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKS, ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Vi n kiểm sát nh n d n huy n K, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Đinh X và Nguyễn Văn S về tội “Vi ph m quy đ nh v khai thác, b o v r ng và lâm s n” theo điểm b khoản 3 Điều 232 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Đoàn Văn M và Đinh Văn K về tội “Vi ph m quy đ nh v khai thác, b o v r ng và lâm s n” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Đinh Văn Th về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo v rừng và l m sản” theo điểm b khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên t a, đại di n Vi n kiểm sát nh n d n huy n K giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Đinh X, Nguyễn Văn S, Đoàn Văn M, Đinh Văn K, Đinh Văn Th phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo v rừng và l m sản”.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Đinh X 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật Hình sự;
+ Xử phạt bị cáo Đoàn Văn M 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.
+ Xử phạt bị cáo Đinh Văn K 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật Hình sự;
+ Xử phạt bị cáo Đinh Văn Th 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tù.
- Các bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giam trước đ y.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Ngoài ra, đại di n Vi n kiểm sát c n nêu ý các kiến đề nghị về trách nhi m d n sự, xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.
Tại phiên t a, người bào chữa cho các bị cáo Đinh X, Nguyễn Văn S, Đoàn Văn M, Đinh Văn K là ông Nguyễn Thành Tr và người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn Th là ông Nguyễn Công Tr thống nhất với tội danh mà Vi n kiểm sát nh n d n huy n K đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như các bị cáo quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là người đồng bào d n tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc bi t khó khăn nên nhận thức pháp luật c n nhiều hạn chế; các bị cáo Đinh X, Đoàn Văn M, Đinh Văn K và Đinh Văn Th đã bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại; các bị cáo Đinh X và Đoàn Văn M có gia đình có công với cách mạng; các bị cáo đều có gia đình thuộc di n hộ nghèo. Trên cơ sở đó, những người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn S, Đoàn Văn M, Đinh Văn K mức án thấp nhất theo đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát; đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh X mức án dưới khung hình phạt bị truy tố; đề nghị áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Văn Th mức án từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Những người bào chữa cũng đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho các bị cáo.
Ngoài ra, ông Nguyễn Công Tr c n nêu ý các kiến đề nghị về vi c cần buộc Nguyễn Văn B cùng với các bị cáo và toàn bộ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải cùng có trách nhi m bồi thường cho Công ty TNHH MTV Lâm nghi p K tương ứng với hành vi của họ trong vụ án.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì mà chỉ mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được miễn án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n K, Kiểm sát viên Vi n kiểm sát nh n d n huy n K trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hi n đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
. Về hành vi của các bị cáo được xác định theo lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên t a như sau: Trong khoảng thời gian từ tháng 03 năm 2020 đến tháng 07 năm 2022, Nguyễn Văn B đã thuê Nguyễn Văn S (là em trai của B), Đinh X, Đoàn Văn M, Đinh Văn K và Đinh Văn Th lên rừng tại các vị trí ở tiểu khu 750 và 752 thuộc xã Đ, huy n K, tỉnh Gia Lai là l m phần do Công ty TNHH MTV l m nghi p K quản lý để khai thác gỗ trái phép. Quá trình khai thác gỗ Nguyễn Văn B và các đối tượng đã khai thác 63 c y gỗ thuộc các chủng loại Xoay, Trám, Giẻ, Thông Nàng, Thông Tre, Sơn huyết, Kiền kiền, Giổi (từ nhóm I đến nhóm V) thuộc gỗ thông thường với khối lượng gỗ thi t hại là 84,045m3. Cụ thể, Đinh X đã tham gia khai thác 42 c y với khối lượng là 61,905m3; Nguyễn Văn S đã tham gia khai thác 39 c y với khối lượng là 58,292 m3; Đinh Văn K tham gia khai thác 25 c y với khối lượng là 39,011m3; Đoàn Văn M đã tham gia khai thác 16 c y với khối lượng là 28,494m3 và Đinh Văn Th đã tham gia khai thác gỗ cùng với B 09 c y với khối lượng là 15,264 m3.
Các bị cáo đều nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và mong muốn Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng.
. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại cũng như các tài li u, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận hành vi của các bị cáo Đinh X và Nguyễn Văn S đã phạm vào tội “Vi ph m quy đ nh v khai thác, b o v r ng và lâm s n” theo điểm b khoản 3 Điều 232 Bộ luật hình sự; các bị cáo Đoàn Văn M và Đinh Văn K đã phạm vào tội “Vi ph m quy đ nh v khai thác, b o v r ng và lâm s n” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự; bị cáo Đinh Văn Th đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo v rừng và l m sản” theo điểm b khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự.
. Xét về nh n th n, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự của các bị cáo thì thấy rằng:
Thời gian vừa qua, trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói chung và địa bàn huy n K nói riêng thường xuyên xảy ra tình trạng khai thác rừng trái phép. Mặc dù, các cấp chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng vẫn liên tục tuyên truyền, vận động, giáo dục cũng như áp dụng cả các bi n pháp xử lý, răn đe nhưng tình trạng này vẫn liên tục xảy ra. Trong vụ án này, các bị cáo Đinh X, Nguyễn Văn S, Đoàn Văn M, Đinh Văn K và Đinh Văn Th đều là những người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi và đều nhận thức được hành vi khai thác rừng của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì nghe theo lời dụ dỗ, chỉ đạo của Nguyễn Văn B mà các bị cáo đã cùng với Nguyễn Văn B tiến hành khai thác rừng trái phép trong một thời gian dài, g y thi t hại với tổng khối lượng gỗ được xác định là 84,045m3. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã x m phạm đến đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Chính vì vậy, cần xử lý nghiêm đối với hành vi của các bị cáo thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục và ph ng ngừa chung.
Trong vụ án này, các bị cáo Đinh X, Nguyễn Văn S, Đoàn Văn M, Đinh Văn K và Đinh Văn Th cùng cố ý tham gia thực hi n một tội phạm. Để có mức hình phạt tương xứng với hành vi của mỗi bị cáo thì cần ph n tích vai tr , trách nhi m cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự của từng bị cáo. Cụ thể như sau:
Đối với Nguyễn Văn B là người đóng vai tr là người chủ mưu và cũng là người thực hành tích cực trong vi c thực hi n hành vi phạm tội. Tuy nhiên, sau khi thực hi n hành vi phạm tội thì Nguyễn Văn B đã bỏ trốn khỏi địa phương, hi n nay không rõ ở đ u. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n K đã ra Quyết định truy nã bị can, đến nay chưa bắt được. Do thời hạn điều tra vụ án đã hết, vi c tách hành vi phạm tội của Nguyễn Văn B để xử lý sau không ảnh hưởng đến vi c truy tố, xét xử đối với các bị cáo khác vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n K đã tách hồ sơ vụ án để điều tra, truy tố, xét xử sau đối với Nguyễn Văn B là có căn cứ.
Đối với bị cáo Đinh X: Bị cáo đóng vai tr là người thực hành trong vụ án và đã tham gia khai thác 42 c y gỗ với khối lượng là 61,905m3. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo bằng hình phạt tù cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều ki n cải tạo, giáo dục trở thành người công d n có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, cũng xét cho bị cáo có nh n th n tốt; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người d n tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều ki n kinh tế - xã hội khó khăn nên nhận thức pháp luật c n hạn chế; bị cáo đã tự nguy n bồi thường, khắc phục một phần thi t hại cho bị hại; gia đình bị cáo thuộc di n hộ nghèo và có công với cách mạng. Đ y là các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự của bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn S: Bị cáo đóng vai tr là người thực hành trong vụ án và đã tham gia khai thác 39 c y gỗ với khối lượng là 58,292m3. Do đó, cũng cần xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo bằng hình phạt tù cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều ki n cải tạo, giáo dục trở thành người công d n có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, cũng xét cho bị cáo có nh n th n tốt; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo thuộc di n hộ nghèo. Đ y là các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự của bị cáo được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.
Đối với các bị cáo Đoàn Văn M, Đinh Văn K và Đinh Văn Th: Các bị cáo có vai tr người thực hành, trong đó Đinh Văn K tham gia khai thác 25 cây gỗ với khối lượng là 39,011m3; Đoàn Văn M đã tham gia khai thác 16 c y gỗ với khối lượng là 28,494m3 và Đinh Văn Th đã tham gia khai thác gỗ cùng với B 09 cây với khối lượng là 15,264m3. Chính vì vậy, cũng cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo để các bị cáo có điều ki n cải tạo, trở thành người công d n có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, cũng xét cho các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là người d n tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều ki n kinh tế - xã hội khó khăn nên nhận thức pháp luật c n hạn chế; các bị cáo đã tự nguy n bồi thường, khắc phục một phần thi t hại cho bị hại; gia đình các bị cáo đều thuộc di n hộ nghèo; bị cáo Đoàn Văn M có gia đình có công với cách mạng. Do đó, các bị cáo Đoàn Văn M, Đinh Văn K và Đinh Văn Th được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Đinh Văn Th được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.
Xét thấy các bị cáo Đoàn Văn M, Đinh Văn K và Đinh Văn Th có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần cho các bị cáo khi lượng hình.
Trong vụ án này c n có Huỳnh Thị S đã trực tiếp tham gia khai thác 02 cây gỗ với khối lượng gỗ bị thi t hại là 1,127m3 (gỗ tròn), thuộc nhóm loài thông thường. Xét thấy, khối lượng gỗ khai thác dưới 10m3 và Sản chưa bị xử lý hình sự, vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghi p. Do đó, hành vi của S không đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo v rừng và lâm sản” quy định tại Điều 232 Bộ luật hình sự.
Đối với Kpă N khi lên rừng vận chuyển gỗ thuê cho B đã tham gia khai thác cùng B 02 (hai) cây gỗ được đánh số ký hi u 15 (khám nghi m hi n trường ngày 31/8/2022) và cây gỗ số 15 (khám nghi m hi n trường ngày 09/10/2022) với tổng khối lượng gỗ bị thi t hại là 3,009m3 (gỗ tròn), và vận chuyển 03 hộp gỗ trái phép với khối lượng 0,418m3 thuộc nhóm loài thông thường. Xét thấy, khối lượng gỗ khai thác dưới 10m3; khối lượng gỗ vận chuyển dưới 20m3 và N chưa bị xử lý hình sự, vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghi p. Do đó, hành vi của Kpă N không đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo v rừng và lâm sản” quy định tại Điều 232 Bộ luật hình sự.
Đối với Nguyễn Văn H khi lên rừng vận chuyển gỗ thuê cho B đã tham gia cùng B khai thác 01 (một) cây gỗ được đánh số ký hi u 06 (khám nghi m hi n trường ngày 24/8/2022) là rừng sản xuất, nhóm thông thường với khối lượng gỗ bị thi t hại 1,589m3 gỗ tròn và vận chuyển lâm sản trái pháp luật 10 hộp gỗ, (khối lượng khoảng 1,25m3 gỗ xẻ (quy thành 2m3 gỗ tròn). Xét thấy, khối lượng gỗ khai thác trái phép dưới 10m3; khối lượng gỗ vận chuyển dưới 20m3, H chưa bị xử lý hình sự, vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghi p. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn H không đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo v rừng và lâm sản” quy định tại Điều 232 Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi vận chuyển lâm sản trái phép của Nguyễn Văn Ph, Đinh Văn H, Đinh Văn X, Đinh Văn B, Đinh O, Đinh Văn B, Đinh Văn Th, Đinh D, Đinh G và Lê Hoài H, quá trình điều tra xác định các đối tượng trên đã vận chuyển gỗ dưới 20m3, cụ thể: Nguyễn Văn Ph vận chuyển 0,8m3, Đinh Văn H vận chuyển 1,644m3, Đinh Văn X vận chuyển 1,644m3, Đinh Văn B vận chuyển 1,512m3, Đinh O vận chuyển 1,644m3, Đinh Văn B vận chuyển 1,512m3, Đinh Văn Th vận chuyển 1,534m3, Đinh D vận chuyển 0,657m3, Đinh G vận chuyển 1,315m3 và Lê Hoài H vận chuyển 0,256m3. Các đối tượng trên chưa bị xử lý hình sự, vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghi p. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn Ph, Đinh Văn H, Đinh Văn X, Đinh Văn B, Đinh O, Đinh Văn B, Đinh Văn Th, Đinh D, Đinh G và Lê Hoài H không đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo v rừng và lâm sản” quy định tại Điều 232 Bộ luật hình sự.
Do đó, vi c Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n K chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan đến các đối tượng vi phạm nêu trên đến Hạt Kiểm lâm huy n K để xử lý hành chính là có căn cứ.
Đối với hành vi và trách nhi m của các nhân viên quản lý bảo v rừng tại tiểu khu 750, 752 thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghi p K: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n K đã ra Quyết định khởi tố vụ án “Thiếu trách nhi m gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại điều 360 Bộ luật hình sự, để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.
Đối với 66 cây gỗ còn lại có tổng khối lượng 69,132m3 đến nay vẫn chưa điều tra, làm rõ được đối tượng thực hi n hành vi khai thác trái phép nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n K tiếp tục điều tra, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với đối tượng mua gỗ của Nguyễn Văn B, hi n B đã bỏ trốn nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định đối tượng mua gỗ của Bình.
. Đối với đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự và mức án đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Đối với đề nghị của người bào chữa Nguyễn Thành Tr về tội danh và mức án đối với các bị cáo Nguyễn Văn S, Đinh Văn K, Đoàn Văn M là phù hợp. Tuy nhiên, lời đề nghị của người bào chữa về vi c áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Đinh X mức án dưới khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố thì Hội đồng xét xử không chấp nhận bởi lẽ trong vụ án này tuy bị cáo có bồi thường số tiền 4.000.000 đồng để khắc phục hậu quả nhưng số tiền bồi thường đó không lớn và chưa tương xứng với thi t hại mà bị cáo g y ra. Hội đồng xét xử đã xem xét, chấp nhận áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đã chiếu cố đến vi c gia đình bị cáo thuộc di n hộ nghèo, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn bị cáo nhưng vẫn có ý thức trong vi c bồi thường, khắc phục một phần hậu quả do mình g y ra đồng thời xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố là phù hợp.
Đối với đề nghị của người bào chữa Nguyễn Công Tr về mức án đối với bị cáo Đinh Văn Th thì Hội đồng xét xử không chấp nhận bởi lẽ trong thời gian vừa qua, trên địa bàn huy n K liên tục xảy ra tình trạng khai thác rừng trái phép, ảnh hưởng lớn đến vi c quản lý kinh tế của Nhà nước cũng như an ninh trật tự trên địa bàn. Nếu cho bị cáo được hưởng án treo sẽ không đảm bảo vi c răn đe, giáo dục chung. Tuy bị cáo chỉ nộp số tiền 2.000.000 đồng để khắc phục hậu quả nhưng Hội đồng xét xử cũng đã xem xét, chấp nhận áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đã chiếu cố đến vi c gia đình bị cáo thuộc di n hộ nghèo, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn bị cáo nhưng vẫn có ý thức trong vi c bồi thường, khắc phục một phần hậu quả do mình g y ra đồng thời xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi của bị cáo là phù hợp.
Đối với đề nghị của người bào chữa Nguyễn Công Tr về vi c cần buộc Nguyễn Văn B cùng với các bị cáo và toàn bộ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải cùng có trách nhi m bồi thường cho Công ty TNHH MTV Lâm nghi p K tương ứng với hành vi của họ thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này, vai tr chính thuộc về Nguyễn Văn B nên B cũng phải chịu trách nhi m chính trong vi c bồi thường thi t hại nhưng sau khi phạm tội thì Nguyễn Văn B đã bỏ trốn đến nay chưa bắt được. Nếu buộc Nguyễn Văn B bồi thường thì sẽ không bảo đảm quyền kháng cáo của B theo quy định của pháp luật. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Huỳnh Thị S, anh Nguyễn Văn H và anh Kpă N phải bồi thường có tham gia trực tiếp vào vi c khai thác gỗ cùng Nguyễn Văn B nên những người này cũng phải có trách nhi m bồi thường là phù hợp. Tuy nhiên, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không tham gia trực tiếp vào vi c khai thác gỗ cùng Nguyễn Văn B mà chỉ chở thuê gỗ về địa điểm tập kết cho B sau khi số gỗ đó đã bị khai thác nên họ không có trách nhi m bồi thường trong vụ án này.
. Về trách nhi m d n sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên t a hôm nay, Công ty TNHH MTV L m nghi p K yêu cầu các bị cáo Nguyễn Văn S, Đinh X, Đinh Văn K, Đoàn Văn M, Đinh Văn Th và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Huỳnh Thị S, anh Nguyễn Văn H và anh Kpă N phải bồi thường cho Công ty toàn bộ số tiền thi t hại là 1.083.310.392 đồng (Một tỷ không trăm tám mươi ba tri u ba trăm mười nghìn ba trăm chín mươi hai đồng) theo kết luận định giá tài sản.
Xét yêu cầu này của Công ty TNHH MTV L m nghi p K thấy rằng: Trong vụ án này, vai tr chính thuộc về Nguyễn Văn B nên B cũng phải chịu trách nhi m chính trong vi c bồi thường thi t hại nhưng sau khi phạm tội thì Nguyễn Văn B đã bỏ trốn đến nay chưa bắt được. Tuy nhiên, để đảm bảo nguyên tắc tài sản của Nhà nước (Công ty TNHH MTV L m nghi p K là doanh nghi p có 100% vốn Nhà nước) phải được ưu tiên thu hồi kịp thời và tri t để thì cần buộc các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thi t hại xảy ra là phù hợp. Sau này, khi cơ quan chức năng bắt được và xử lý đối với Nguyễn Văn B thì các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu B phải trả lại một phần số tiền bồi thường thi t hại tương ứng với hành vi phạm tội của B gây ra.
Chính vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu nói trên của Công ty TNHH MTV L m nghi p K đồng thời buộc các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải bồi thường tương ứng với vai tr và mức độ thi t hại mà các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan g y ra. Cụ thể: Bị cáo Đinh X phải bồi thường số tiền là 293.310.392 đồng (Hai trăm chín mươi ba tri u ba trăm mười nghìn ba trăm chín mươi hai đồng), bị cáo đã bồi thường số tiền là 4.000.000 đồng (Bốn tri u đồng) nên c n phải tiếp tục bồi thường số tiền c n lại là 289.310.392 đồng (Hai trăm tám mươi chín tri u ba trăm mười nghìn ba trăm chín mươi hai đồng); bị cáo Nguyễn Văn S phải bồi thường số tiền là 290.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi tri u đồng); bị cáo Đinh Văn K phải bồi thường số tiền là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi tri u đồng), bị cáo đã bồi thường số tiền là 2.000.000 đồng (Hai tri u đồng) nên c n phải tiếp tục bồi thường số tiền c n lại là 218.000.000 đồng (Hai trăm mười tám tri u đồng); bị cáo Đoàn Văn M phải bồi thường số tiền là 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi tri u đồng), bị cáo đã bồi thường số tiền là 1.000.000 đồng (Một tri u đồng) nên c n phải tiếp tục bồi thường số tiền c n lại là 179.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi chín tri u đồng); bị cáo Đinh Văn Th phải bồi thường số tiền là 90.000.000 đồng (Chín mươi tri u đồng), bị cáo đã bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (Hai tri u đồng) nên c n phải tiếp tục bồi thường số tiền c n lại là 88.000.000 đồng (Tám mươi tám tri u đồng); anh Kpă N phải bồi thường số tiền là 4.000.000 đồng (Bốn tri u đồng); chị Huỳnh Thị S và anh Nguyễn Văn H mỗi người phải bồi thường số tiền là 3.000.000 đồng (Ba tri u đồng).
. Về hình phạt bổ sung:
Xét các bị cáo Đinh X, Đinh Văn K, Đoàn Văn M và Đinh Văn Th đều là người d n tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc bi t khó khăn và gia đình thuộc di n hộ nghèo, bị cáo Nguyễn Văn S gia đình cũng thuộc di n hộ nghèo do đó không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Về vật chứng vụ án:
- Đối với 05 (năm) xe mô tô độ chế (không có biển kiểm soát, không xác định được nhãn hi u, số khung, số máy, đã tháo bỏ hết vỏ áo xe) là phương ti n các bị cáo sử dụng vào vi c phạm tội c n giá trị sử dụng nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước;
- Đối với 01 (một) máy cưa xích nhãn hi u HUSQVARNA, màu cam, gồm hai phần: phần th n máy và lam xích bằng kim loại dài 116 cm là công cụ các bị cáo sử dụng vào vi c phạm tội c n giá trị sử dụng nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước;
- Đối với 78 (bảy mươi tám) hộp gỗ với khối lượng 12,31m3 (quy thành 19,696 m3 gỗ tr n) đang được bảo quản tại kho vật chứng Hạt kiểm l m huy n K cần tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước sau khi trừ các chi phí hợp lý cho vi c thu gom, vận chuyển, bảo quản.
. Về án phí sơ thẩm: Xét các bị cáo Đinh X, Đinh Văn K, Đoàn Văn M và Đinh Văn Th đều là người d n tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc bi t khó khăn và gia đình thuộc di n hộ nghèo, bị cáo Nguyễn Văn S gia đình cũng thuộc di n hộ nghèo và các bị cáo đều có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí d n sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí d n sự sơ thẩm về phần nghĩa vụ bồi thường theo quy định chung.
. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S, Đinh X, Đinh Văn K, Đoàn Văn M và Đinh Văn Th phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
2. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật Hình sự;
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 06 (sáu) năm tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giam trước đ y là 06 (sáu) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày, như vậy thời gian bị cáo c n phải chấp hành là 05 (năm) năm 05 (năm) tháng 05 (năm) ngày tù, thời hạn tù được tính từ ngày 15/3/2024 (là ngày bị cáo bị bắt tam giam).
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 232; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật Hình sự;
+ Xử phạt bị cáo Đinh X 05 (năm) năm tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giam trước đ y là 06 (sáu) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày, như vậy thời gian bị cáo c n phải chấp hành là 04 (bốn) năm 05 (năm) tháng 05 (năm) ngày tù, thời hạn tù được tính từ ngày 15/3/2024 (là ngày bị cáo bị bắt tam giam).
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 232; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật Hình sự;
+ Xử phạt bị cáo Đinh Văn K 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giam trước đ y là 05 (năm) tháng 05 (năm) ngày, như vậy thời gian bị cáo c n phải chấp hành là 01 (một) năm 09 (chín) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù, thời hạn tù được tính từ ngày 15/3/2024 (là ngày bị cáo bị bắt tam giam).
+ Xử phạt bị cáo Đoàn Văn M 02 (hai) năm tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giam trước đ y là 05 (năm) tháng 05 (năm) ngày, như vậy thời gian bị cáo c n phải chấp hành là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù, thời hạn tù được tính từ ngày 15/3/2024 (là ngày bị cáo bị bắt tam giam).
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật Hình sự;
+ Xử phạt bị cáo Đinh Văn Th 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
3. Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587 và 589 của Bộ luật D n sự;
Xử buộc các bị cáo Đinh X, Nguyễn Văn S, Đoàn Văn M, Đinh Văn K, Đinh Văn Th và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Huỳnh Thị S, anh Nguyễn Văn H và anh Kpă N phải bồi thường cho Công ty TNHH MTV Lâm nghi p K số tiền là 1.083.310.392 đồng (Một tỷ không trăm tám mươi ba tri u ba trăm mười nghìn ba trăm chín mươi hai đồng), cụ thể: Bị cáo Đinh X phải bồi thường số tiền là 293.310.392 đồng (Hai trăm chín mươi ba tri u ba trăm mười nghìn ba trăm chín mươi hai đồng), bị cáo đã bồi thường số tiền là 4.000.000 đồng (Bốn tri u đồng) nên c n phải tiếp tục bồi thường số tiền c n lại là 289.310.392 đồng (Hai trăm tám mươi chín tri u ba trăm mười nghìn ba trăm chín mươi hai đồng); bị cáo Nguyễn Văn S phải bồi thường số tiền là 290.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi tri u đồng); bị cáo Đinh Văn K phải bồi thường số tiền là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi tri u đồng), bị cáo đã bồi thường số tiền là 2.000.000 đồng (Hai tri u đồng) nên c n phải tiếp tục bồi thường số tiền c n lại là 218.000.000 đồng (Hai trăm mười tám tri u đồng); bị cáo Đoàn Văn M phải bồi thường số tiền là 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi tri u đồng), bị cáo đã bồi thường số tiền là 1.000.000 đồng (Một tri u đồng) nên c n phải tiếp tục bồi thường số tiền c n lại là 179.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi chín tri u đồng); bị cáo Đinh Văn Th phải bồi thường số tiền là 90.000.000 đồng (Chín mươi tri u đồng), bị cáo đã bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (Hai tri u đồng) nên c n phải tiếp tục bồi thường số tiền c n lại là 88.000.000 đồng (Tám mươi tám tri u đồng); anh Kpă N phải bồi thường số tiền là 4.000.000 đồng (Bốn tri u đồng); chị Huỳnh Thị S và anh Nguyễn Văn H mỗi người phải bồi thường số tiền là 3.000.000 đồng (Ba tri u đồng).
Kể từ ngày Bản án có hi u lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án c n chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật D n sự.
(Số tiền các bị cáo Đinh X, Đoàn Văn M, Đinh Văn K và Đinh Văn Th đã bồi thường c n ở tài khoản của Chi cục Thi hành án d n sự huy n K, tỉnh Gia Lai).
4. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Xử tịch thu, nộp vào ng n sách nhà nước 05 (năm) xe mô tô độ chế (không có biển kiểm soát, không xác định được nhãn hi u, số khung, số máy, đã tháo bỏ hết vỏ áo xe);
- Xử tịch thu, nộp vào ng n sách nhà nước 01 (một) máy cưa xích nhãn hi u HUSQVARNA, màu cam, gồm hai phần: phần th n máy và lam xích bằng kim loại dài 116 cm.
- Xử tịch thu, nộp vào ng n sách nhà nước 78 (bảy mươi tám) hộp gỗ với khối lượng 12,31m3 (quy thành 19,696 m3 gỗ tr n) đang được bảo quản tại kho vật chứng Hạt kiểm l m huy n K.
Số tiền bán vật chứng sung quỹ Nhà nước sau khi trừ đi các chi phí hợp lý cho vi c thu gom, vận chuyển, bảo quản.
(Theo Biên b n giao, nhận đồ vật, tài li u, vật chứng ngày 24/11/2023 giữa Công an huy n K và Chi cục Thi hành án dân sự huy n K).
5. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Xử miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và 14.465.520đ (Mười bốn tri u bốn trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm hai mươi đồng) án phí d n sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh X; miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và 14.500.000đ (Mười bốn tri u năm trăm nghìn đồng) án phí d n sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn S; miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và 10.900.000đ (Mười tri u chín trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Văn K; miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và 8.950.000đ (Tám tri u chín trăm năm mươi nghìn đồng) án phí d n sự sơ thẩm cho bị cáo Đoàn Văn M; miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và 4.400.000đ (Bốn tri u bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Văn Th.
- Xử buộc anh Kpă N, chị Huỳnh Thị S và anh Nguyễn Văn H mỗi người phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí d n sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nh n d n tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên t a có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án d n sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND huy n K; - Công an huy n K; - B cáo; - Người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Thi hành án HS, DS; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huy Viễn |