vanban.org

Bản án 07/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 17/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tịch thu tiêu hủy: 0,2280 gam mẫu ma túy Heroine và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả” hoàn lại sau giám định. (Vật chứng có đặc điểm nêu tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản tại Chi cục Thi hành án dân sự). Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Binh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HS-ST
Ngày 17 tháng 01 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Việt Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Khải

2. Ông Lưu Văn Hà

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Huệ – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Ông Đào Quang Soạn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 181/2023/HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh ngày 19/5/1996 tại tỉnh Tuyên Quang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Y, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; dân tộc: Cao Lan; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T và Đàm Thị C (đã chết); vợ con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: 02, cụ thể:

+ Ngày 08/02/2021, bị Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 15 tháng. Ngày 04/8/2022, B chấp hành xong.

+ Ngày 15/8/2023, bị Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 01 năm 09 tháng. Binh chưa đi chấp hành.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/9/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt.

Người chứng kiến: Ông Đỗ Tràng T1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút, ngày 11/9/2023, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố V phối hợp với Công an phường N làm nhiệm vụ tại khu vực đường T, thuộc địa phận phường N phát hiện Nguyễn Văn B có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý, quá trình kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay phải của B đang cầm 02 gói giấy bạc nhỏ, bên trong có chứa chất cục, bột màu trắng, B tự khai nhận là ma tuý heroine vừa mua được, mục đích sử dụng cho bản thân, Tổ công tác đã niêm phong vào phong bì thư ký hiệu A, sau đó đưa Binh cùng tang vật về trụ sở làm việc.

Cùng ngày 11/9/2023, Cơ quan điều tra Công an thành phố V (CQĐT) ra Quyết định trưng cầu giám định số 611 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định đối với mẫu ký hiệu A1 thu giữ của B. Ngày 15/9/2023, Phòng K Công an tỉnh V có Kết luận giám định số 2553/KL-KTHS, kết luận:“Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3217 (không phảy ba hai một bảy gam, không kể bao bì) loại Heroine…

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 0,2280 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ…”.

CQĐT đã thông báo kết luận giám định cho Nguyễn Văn B biết, bị cáo đồng ý với kết luận giám định, không thắc mắc, khiếu nại gì. Quá trình điều tra, bị cáo còn khai nhận bản thân là người nghiện ma túy nên ngày 11/9/2023, khi đang ở nhà tại thôn Y, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, thì nảy sinh nhu cầu sử dụng Heroine nên bắt xe khách đi thành phố V tìm mua. Khi đến khu vực đường K, phường N, thành phố V, B xuống xe khách và đi bộ đến khu vực đường Đ, phường Đ. Tại đây B gặp một người đàn ông, qua nói chuyện Binh hỏi mua được của người này 02 gói ma tuý với giá 500.000đ là tiền của B do lao động tích cóp mà có. Mua được ma túy, B cầm ở trong lòng bàn tay phải rồi đi tìm nơi vắng người để sử dụng. Khi đi được một đoạn đến đường T, phường N thì Binh bị CQĐT kiểm tra hành chính, phát hiện và thu giữ tang vật như trên. CQĐT căn cứ lời khai của B, tiến hành xác minh tại phường Đ về đối tượng nam giới, có tuổi đời khoảng 45, dáng người gầy, cao khoảng 1m70, mặt đeo khẩu trang, đầu đội mũ lưỡi trai, mặc áo chống nắng dài tay, quần dài màu đen, nhưng chưa xác định được người này là ai. Ngoài lời khai của B thì không có tài liệu nào xác định được cụ thể nhân thân, lai lịch của người này nên vẫn đang tiếp tục điều tra, xác minh để làm rõ.

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSTPVY ngày 21/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố Nguyễn Văn Binh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).

Tại phiên tòa, Nguyễn Văn B giữ nguyên lời khai nhận tội ở giai đoạn điều tra. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên công bố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt Nguyễn Văn B từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 11/9/2023; đề nghị không phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS; áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,2280 gam mẫu ma túy Heroine và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả” hoàn lại sau giám định.

Bị cáo không có bào chữa, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở lại hòa nhập cộng đồng tu dưỡng bản thân thành người có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản sự việc và vật chứng đã được thu giữ, cũng như kết luận giám định và các tài liệu khác. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 11/9/2023, tại khu vực đường T, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 0,3217 gam ma tuý loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho nhu cầu của bản thân thì bị cơ quan Công an phát hiện quả tang, lập biên bản sự việc và thu toàn bộ vật chứng.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn B đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, chất gây nghiện, phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Điều luật có quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêroine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”

Như vậy Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thấy rằng:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn B là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực nên cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Văn B là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu với 02 tiền sự do bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Lần gần nhất vào ngày 15/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang buộc bị cáo đi cai nghiện bắt buộc 01 năm 09 tháng, trong thời gian chờ chấp hành cai nghiện bắt buộc, bị cáo lại tiếp tục tìm mua ma túy để sử dụng, điều này thể hiện bị cáo là người có thái độ coi thường pháp luật cần bị xử lý nghiêm khắc. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về hình phạt chính, Hội đồng xét xử xem xét dựa trên tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Đối tượng Binh là người nghiện ma túy lâu năm, từng được đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng không thành. Vì vậy để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội, cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian. Xét thấy hình phạt tù tại trại giam như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ để chấp nhận.

Về phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản gì giá trị đảm bảo để thi hành án nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị không phạt tiền bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS 2015 là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về nguồn gốc ma túy và các đối tượng có liên quan trong vụ án:

Theo lời khai của bị cáo, CQĐT đã tiến hành xác minh tại phường Đ về người bán ma túy nhưng không đủ căc cứ xác định cụ thể nhân thân, lý lịch của đối tượng. Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, CQĐT cần tiếp tục điều tra xác minh làm rõ để xử lý sau theo quy định. Đối với số tiền 500.000đ mà bị cáo dùng để mua ma túy, do chưa xác định được người bán ma túy nên QCĐT không thu hồi được để xử lý, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 0,2280 gam mẫu ma túy Heroine và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả” hoàn lại sau giám định đều liên quan đến tội phạm, không được lưu hành sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Văn B 02 (hai) năm 03 (ba) tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 11/9/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 0,2280 gam mẫu ma túy Heroine và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả” hoàn lại sau giám định. (Vật chứng có đặc điểm nêu tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản tại Chi cục Thi hành án dân sự).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ