vanban.org

Bản án 07/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 24/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Chí C, Nguyễn Công Ch, Quách Văn H, Tăng Huỳnh Đ, Lý H, Lâm Thị Tuyết N, Lê Minh V và Phạm Lê Hồng Á phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Nguyễn Chí C 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 07/7/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 07/2024/HS-ST Tuyên án 24/01/2024
Phúc thẩm Bản án 15/2024/HSPT-QĐ Tuyên án 20/03/2024
Phúc thẩm Bản án 15/2024/HSPT-QĐ Tuyên án 20/03/2024

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí Công và 07 bị cáo khác phạm tội Tàng trử trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Chí C, Nguyễn Công Ch, Quách Văn H, Tăng Huỳnh Đ, Lý H, Lâm Thị Tuyết N, Lê Minh V và Phạm Lê Hồng Á phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HS-ST
Ngày: 24-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thiên Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Trần Ngọc Bích.

- Ông Trần Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Lam Điền - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 223/2023/TLST-HS, ngày 22 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Chí C (Tên gọi khác: không có), sinh năm: 1998; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Kiên Giang; Nơi cư trú: tổ 7 khu phố Tri Tôn, thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở: như trên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Quan hệ gia đình, Cha tên: Nguyễn Ngọc N (s); Mẹ: Trần Thị D (s); Em ruột: 01 người; Bản thân chưa vợ - con;

Tiền sự: Chưa; Tiền án: Chưa;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/7/2023, chuyển tạm giam ngày 16/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Công C (Tên gọi khác: không có), sinh năm: 1997; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 178 Trà Sư, thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (Tổ 02, Hòa Hưng, phường Nhà Bàng, thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang). Chỗ ở: 292 đường Trần Hoàng Na, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không (Tại phiên tòa bị cáo khai: Thiên Chúa); Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Quan hệ gia đình, Cha tên: Nguyễn Thế C (s); Mẹ: Nguyễn Thúy L (s); Bản thân chưa vợ - con;

Tiền sự: Chưa; Tiền án: Chưa;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/7/2023, chuyển tạm giam ngày 16/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Có mặt tại phiên tòa).

3. Quách Văn H (Tên gọi khác: không có), sinh năm: 1996; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Cà Mau; Nơi cư trú: ấp Rạch Lùm A, xã Khánh Hưng, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở: Như trên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Quan hệ gia đình, Cha tên: Quách Văn T (s); Mẹ: Nguyễn Thị C (s); Em: 01 người; Vợ: Đồng Hoài Mơ; Con: 01 người con sinh năm: 2022;

Tiền sự: Chưa; Tiền án: Chưa;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/7/2023, chuyển tạm giam ngày 16/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Có mặt tại phiên tòa).

4. Tăng Huỳnh Đ (Tên gọi khác: không có), sinh năm: 1997; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Tây Ninh; Nơi cư trú: ấp Thạnh An, xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Chỗ ở: Như trên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Quan hệ gia đình, Cha tên: Tăng Văn Đ (s); Mẹ: Huỳnh Thị Kim T (s); Em: 01 người; Bản thân chưa vợ - con;

Tiền sự: Chưa; Tiền án: Chưa;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/7/2023, chuyển tạm giam ngày 16/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Có mặt tại phiên tòa).

5. Lý H (Tên gọi khác: không có), sinh năm: 1984; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi cư trú: 312E/10B KV6, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở: 290 đường Trần Hoàng Na, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơme; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Quan hệ gia đình, Cha tên: Lý X (s); Mẹ: Ngô Thị D (s); Chị: 02 người; Bản thân chưa vợ - con;

Tiền sự: Chưa; Tiền án: Chưa;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/7/2023, chuyển tạm giam ngày 16/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Có mặt tại phiên tòa).

6. Lâm Thị Tuyết N (Tên gọi khác: không có), sinh năm: 1999; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Kiên Giang; Nơi cư trú: Tổ 1, khu phố 3, phường Tô Châu, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở: như trên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quan hệ gia đình, Cha tên: Lâm Ngọc T (s); Mẹ: Trần Thị Mỹ D (s); Em: 01 người; Bản thân chưa chồng - con;

Tiền sự: Chưa; Tiền án: Chưa;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/7/2023, chuyển tạm giam ngày 16/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Có mặt tại phiên tòa).

7. Lê Minh V (Tên gọi khác: không có), sinh năm: 1994; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Cà Mau; Nơi cư trú: ấp 18, xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở: 333/57/5 đường Võ Văn Kiệt, KV5, phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ (Hẻm 9, Phạm Ngọc Hưng, phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ);

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Quan hệ gia đình, Cha tên: Lê Văn M (s); Mẹ: Huỳnh Thị N (s); Em: 01 người; Bản thân chưa vợ - con;

Tiền sự: Chưa; Tiền án: Chưa;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/7/2023, chuyển tạm giam ngày 16/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Có mặt tại phiên tòa).

8. Phạm Lê Hồng Á (Tên gọi khác: không có), sinh năm: 2003; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi cư trú: 107/60/40C đường Hoàng Văn Thụ, phường An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Chuyển nhượng năm 2018). Chỗ ở: 19/8A đường Trương Định, phường An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Lý lịch thể hiện mẹ và em đang sinh sống địa chỉ này; Thông báo đính chính số 1237/TB-MT, ngày 14/7/2023 nơi thường trú đúng: 107/60/40C đường Hoàng Văn Thụ, phường An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ);

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quan hệ gia đình, Cha tên: Phạm Trung C (c); Mẹ: Lê Thị Hồng Đ (s); Em: 02 người; Bản thân chưa chồng - con;

Tiền sự: Chưa; Tiền án: Chưa;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/7/2023, chuyển tạm giam ngày 16/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Có mặt tại phiên tòa).

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đêm ngày 06/7/2023 cả nhóm 08 bị cáo gồm Nguyễn Chí C, Nguyễn Công Ch, Quách Văn H, Tăng Huỳnh Đ, Lý Hùng, Lâm Thị Tuyết N, Lê Minh V và Phạm Lê Hồng Á tổ chức uống rượu - bia tại nhà của H trong khu dân cư Hồng Loan thuộc quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Sau đó, cả nhóm bàn nhau hùn tiền đi hát karaoke và mua ma túy (thuốc lắc) để sử dụng; bị cáo Á liên hệ đặt phòng 606 Karaoke Queen tại số 40 đường Lê Lợi, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ cho cả nhóm. Trong lúc ca hát cả nhóm 08 bị cáo thống nhất mua 06 viên thuốc lắc với giá 1.800.000 đồng, Công trực tiếp liên hệ với một đối tượng nam ở Karaoke Queen và ứng tiền mua ma túy, sau khi sử dụng xong thì chia tiền cho 08 bị cáo cùng tiền giờ hát. Sau khi nhận 06 viên thuốc lắc và trả tiền cho đối tượng đến giao, Công để tất cả 06 viên ma túy trên đĩa để trên bàn phòng 606, cả nhóm 08 bị cáo bẻ nhỏ từng viên thuốc lắc (ma túy) để cùng nhau sử dụng rồi tiếp tục ca hát. Đến 03 giờ 45 phút, ngày 07/7/2023 Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cần Thơ kết hợp cùng Công an phường Cái Khế, quận Ninh Kiều đến khám xét khẩn cấp Phòng 606 Karaoke Queen, phát hiện trên bàn còn 01 viên ma túy của 08 bị cáo để tiếp tục sử dụng.

Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:

- 01 viên nén màu xanh (thu giữ trên bàn trong phòng 606);

- 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu xanh, sim số: 0586.082.296 (thu của Phạm Lê Hồng Ánh).

- 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max, màu tím, sim số 0787.974.590 (thu của Lâm Thị Tuyết Nhi).

- 01 điện thoại hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, sim số: 0919.333.696 (thu của Lý Hùng).

- 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, 0833.254.277; tiền Việt Nam 1.050.000 đồng (thu của Quách Văn Hoài).

- 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max màu xanh, sim số 0946.454.592; tiền Việt Nam 1.148.000 đồng (thu Nguyễn Chí Công).

- 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max màu gold, sim số 0355.536.803; tiền Việt Nam 529.000 đồng (thu Nguyễn Công Chánh).

- 01 điện thoại Iphone 13 Promax, màu xanh, sim số 0919.234.096 (thu Lê Minh Vẹn). (Bút lục: 109 – 110).

Tại Kết luận giám định số 236/KL - KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Viên nén màu xanh gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng 0,3353 gam (Bút lục: 61).

Tại Cơ quan điều tra, 08 bị cáo Nguyễn Chí C, Nguyễn Công Ch, Quách Văn H, Tăng Huỳnh Đ, Lý H, Lâm Thị Tuyết N, Lê Minh V và Phạm Lê Hồng Á đều khai nhận cùng bàn bạc và thống nhất mua 06 viên thuốc lắc (MDMA) để sử dụng khi hát Karaoke, Công liên hệ mua ma túy và ứng tiền trả, sau đó cộng với tiền giờ hát Karaoke sẽ chia đều cho cả 08 bị cáo. Sau khi mua được ma túy 08 bị cáo đã chia nhau và lần lượt sử dụng hết 05 viên, còn lại 01 viên chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an khám xét, phát hiện, thu giữ (bút lục:165 - 258).

Đối với đối tượng nam, bị cáo Công khai liên hệ mua ma túy và đối tượng đến giao ma túy, do bị cáo Công khai không rõ họ tên, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý khi đủ căn cứ.

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSNK ngày 19 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố các bị cáo Nguyễn Chí C, Nguyễn Công Ch, Quách Văn H, Tăng Huỳnh Đ, Lý H, Lâm Thị Tuyết N, Lê Minh V và Phạm Lê Hồng Á về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo, có phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt; Các bị cáo phạm tội thuộc đồng phạm giản đơn; các bị cáo có vai trò ngang nhau cùng nhau sử dụng ma túy nên có mức án tương thích từ đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Chí Công, Nguyễn Công Chánh, Quách Văn Hoài, Tăng Huỳnh Đức, Lý Hùng, Lâm Thị Tuyết Nhi, Lê Minh Vẹn và Phạm Lê Hồng Ánh về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng đối với các bị cáo: Điểm c Khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Chí Công, Nguyễn Công Chánh, Quách Văn Hoài, Tăng Huỳnh Đức, Lý Hùng, Lâm Thị Tuyết Nhi, Lê Minh Vẹn và Phạm Lê Hồng Ánh mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù;

Về xử lý tang vật, vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự xử lý theo quy định.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy tang vật có liên quan đến các chất ma túy, vật để sử dụng ma túy.

Đề nghị trả lại tài sản:

- Trả cho bị cáo Lý Hùng 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh rêu (Imei: 350879905385392) kèm sim: 0919333696 (đã qua sử dụng).

- Trả cho bị cáo Lâm Thị Tuyết Nhi 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím (Imei: 357711914171914) kèm sim: 0787974590 (đã qua sử dụng).

- Trả cho bị cáo Lê Minh Vẹn 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh (Imei:) số seri: PWGXQGCDGD, kèm sim: 0919234096 (đã qua sử dụng).

- Trả cho bị cáo Nguyễn Chí Công 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương (Imei: 354860892868398) kèm sim: 0946454592 (đã qua sử dụng); 1.148.000 đồng (Một triệu một trăm bốn mươi tám nghìn đồng)

- Trả cho bị cáo Quách Văn Hoài 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương (Imei: 356713113311607) kèm sim: 0833254277 (đã qua sử dụng). 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm chục ngàn đồng)

- Trả cho bị cáo Nguyễn Công Chánh 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng (Imei: 358863669860990) kèm sim: 03555368803 (đã qua sử dụng); 529.000 đồng (Năm trăm hai mươi chín nghìn đồng)

- Trả cho bị cáo Phạm Lê Hồng Ánh 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh dương (Imei: 358688601103864) kèm sim: 0586082296 (đã qua sử dụng).

Các bị cáo thống nhất Cáo trạng truy tố, thừa nhận hành vi phạm tội như quá trình điều tra.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các bị cáo không có ý kiến. Nên, về tố tụng, về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Các bị cáo đã thừa nhận cùng nhau đi hát Karaoke tại Queen phòng 606 sau đó cùng thống nhất mua ma túy dạng thuốc lắc (MDMA) của đối tượng không rõ họ tên tại Karaoke Queen để cùng nhau sử dụng ma túy. thể hiện khoảng 3 giờ 45 phút ngày 07/7/2023 qua khám xét thu giữ số ma túy của các bị cáo là loại MDMA có khối lượng là 0,3353 gram (gam) đây là một trong số ma túy còn lại các bị cáo vừa mua từ đối tượng không rõ họ và tên trong lúc sử dụng được 05 viên còn lại 01 viên thì bị bắt quả tang cùng tang vật, tại Kết luận giám định số 236/KL - KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Viên nén màu xanh gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng 0,3353 gam (Bút lục: 61). Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà là thống nhất, phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ. Vì vậy, Hội đồng xét xử khẳng định Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản luật đã nêu là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Về hành vi: Nhà nước thống nhất quản lý các chất ma tuý nhằm đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của xã hội. Đồng thời, Nhà nước cũng nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma tuý. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi của các bị cáo nên hành vi của các bị cáo là cố ý và hành vi này đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, các bị cáo là người đã trưởng thành, trong độ tuổi lao động không lo chí thú làm ăn mà lại lựa chọn việc sử dụng ma túy hủy hoại bản thân, hành vi của các bị cáo đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự công cộng tại địa phương. Bản thân các bị cáo nhận biết hành vi của mình là trái pháp luật, ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội, tác hại của ma tuý đối với xã hội là rất lớn, nhưng các bị cáo vẫn cố ý mua ma túy (MDMA) để cùng sử dụng nên các bị cáo đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tính chất của hành vi: Các bị cáo cùng nhau thống nhất mua ma túy, với mục đích về cùng nhau để sử dụng. Tuy nhiên, các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ với nhau, không có sự phân công rõ ràng, không có người chủ mưu… Nên Hội đồng xét xử xem đây là đồng phạm giản đơn và việc phạm tội của các bị cáo phải gánh chịu hậu quả pháp lý ngang nhau. Do đó, các bị cáo phải chịu hậu quả pháp lý do cùng mua ma túy là chất cấm để sử dụng, thì phải có mức hình phạt ngang nhau thể hiện sự công bằng của pháp luật. Để có tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội nên cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo có thời gian suy nghĩ tác hại của ma tuý mà làm lại cuộc đời, có thời gian để cai nghiện và để phòng ngừa chung các hành vi tương tự trong xã hội.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Công gia đình có đóng góp vì sức khỏe cộng đồng, gia đình có công với Cách mạng có ông được tặng Huân chương kháng chiến; bị cáo Chánh gia đình có công với Cách mạng; bị cáo Hoài gia đình có công với Cách mạng – gia đình liệt sĩ – Mẹ Việt Nam anh hùng; bị cáo Hùng hoàn cảnh gia đình khó khăn cha – mẹ bệnh, bản thân bệnh hiểm nghèo (HIV); bị cáo Vẹn gia đình có hoàn cảnh khó khăn thuộc gia đình có công – chính sách, bị cáo Nhi và Ánh phạm tội lần đầu làm thuê nuôi em… các bị cáo khác gia đình có nhân thân rõ ràng, thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước … nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Về các tình tiết tăng nặng: Không.

[6] Về xử lý tang vật, vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao thư được niêm phong theo kết luận số 236/KL-KTHS, ngày 14/07/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ trọng lượng còn lại sau giám định là 0,2683gram (gam) ma túy, loại MDMA;

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện các tang vật thu giữ của các bị cáo không dùng để thực hiện việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.

Tài sản trả lại như sau:

Trả cho bị cáo Lý Hùng 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh rêu (Imei: 350879905385392) kèm sim: 0919333696 (đã qua sử dụng).

Trả cho bị cáo Lâm Thị Tuyết Nhi 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím (Imei: 357711914171914) kèm sim: 0787974590 (đã qua sử dụng).

Trả cho bị cáo Lê Minh Vẹn 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh (Imei: không có ghi nhận số imei) số seri: PWGXQGCDGD, kèm sim: 0919234096 (đã qua sử dụng).

Trả cho bị cáo Nguyễn Chí Công 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương (Imei: 354860892868398) kèm sim: 0946454592 (đã qua sử dụng); 1.148.000 đồng (Một triệu một trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

Trả cho bị cáo Quách Văn Hoài 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương (Imei: 356713113311607) kèm sim: 0833254277 (đã qua sử dụng). 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm chục ngàn đồng).

Trả cho bị cáo Nguyễn Công Chánh 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng (Imei: 358863669860990) kèm sim: 03555368803 (đã qua sử dụng); 529.000 đồng (Năm trăm hai mươi chín nghìn đồng).

Trả cho bị cáo Phạm Lê Hồng Ánh 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh dương (Imei: 358688601103864) kèm sim: 0586082296 (đã qua sử dụng).

Trong đó tổng số tiền thu giữ và trả lại là 2.727.000 đồng theo biên lai thu số 0000460, ngày 20/12/2023.

(Tang vật xử lý: Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều và Quyết định chuyển vật chứng số 05/QĐ-VKSNK ngày 19/12/2023).

[7] Xét thấy lời trình bày của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận;

[8] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9] Đối với đối tượng bán ma túy cho các bị cáo, bị cáo Công trực tiếp giao nhận (Không rõ họ tên và địa chỉ) Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

[10] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Chí C, Nguyễn Công Ch, Quách Văn H, Tăng Huỳnh Đ, Lý H, Lâm Thị Tuyết N, Lê Minh V và Phạm Lê Hồng Á phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

1. Nguyễn Chí C 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 07/7/2023.

2. Nguyễn Công Ch 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 07/7/2023.

3. Quách Văn H 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 07/7/2023.

4. Tăng Huỳnh Đ 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 07/7/2023.

5. Lý H 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 07/7/2023.

6. Lâm Thị Tuyết N 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 07/7/2023.

7. Lê Minh V 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 07/7/2023.

8. Phạm Lê Hồng Á 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 07/7/2023.

Về xử lý tang vật, vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao thư được niêm phong theo Kết luận số: 236/KL-KTHS, ngày 14/07/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ trọng lượng còn lại sau giám định là 0,2683 gam (gram) ma túy, loại MDMA;

Trả lại tài sản như sau:

- Trả cho bị cáo Lý Hùng 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh rêu (Imei: 350879905385392) kèm sim: 0919333696 (đã qua sử dụng).

- Trả cho bị cáo Lâm Thị Tuyết Nhi 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím (Imei: 357711914171914) kèm sim: 0787974590 (đã qua sử dụng).

- Trả cho bị cáo Lê Minh Vẹn 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh (Imei: không có ghi nhận số imei) số seri: PWGXQGCDGD, kèm sim: 0919234096 (đã qua sử dụng).

- Trả cho bị cáo Nguyễn Chí Công 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương (Imei: 354860892868398) kèm sim: 0946454592 (đã qua sử dụng) và trả số tiền 1.148.000 đồng (Một triệu một trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

- Trả cho bị cáo Quách Văn Hoài 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương (Imei: 356713113311607) kèm sim: 0833254277 (đã qua sử dụng) và trả số tiền 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm chục ngàn đồng).

- Trả cho bị cáo Nguyễn Công Chánh 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng (Imei: 358863669860990) kèm sim: 03555368803 (đã qua sử dụng) và trả số tiền 529.000 đồng (Năm trăm hai mươi chín nghìn đồng).

- Trả cho bị cáo Phạm Lê Hồng Ánh 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh dương (Imei: 358688601103864) kèm sim: 0586082296 (đã qua sử dụng).

(Tang vật xử lý: Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều và Quyết định chuyển vật chứng số 05/QĐ-VKSNK ngày 19/12/2023 (Trong đó tổng số tiền thu giữ và trả lại là 2.727.000 đồng theo biên lai thu số 0000460, ngày 20/12/2023)).

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn đồng) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15(mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (24/01/2024) các bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. * Nơi nhận:

Cỡ chữ