- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? I. Tuyên bố Nguyễn Thanh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2024/HS-ST Ngày 16-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Minh Trinh
Ông Phạm Văn Xanh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân qu ận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN THANH Q, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 06.6.2002 tại thành phố Đà Nẵng.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: K250/H63/02 đường N, phường P, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 12/12.
Nghề nghiệp: Lao động phổ thông.
Con ông: Nguyễn Thanh T (sinh năm 1979) và bà Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1980) đều còn sống. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 1.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14/9/2023; Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1980; Địa chỉ: K250/H63/02 đường N, phường P, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Thanh Q đã sử dụng ứng dụng Telegram nhắn tin cho B (không rõ lai lịch) mua 05 viên ma túy thuốc lắc và nửa hộp năm ma túy Ketamine. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 14.9.2023, Q và K (không rõ lai lịch) hẹn gặp nhau tại đường ven sông khu vực phường H quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng rồi cùng vào T Club để sử dụng ma túy. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô biển số 43F1 – 140.71 đến dựng ở lòng đường bên bờ sông, rồi đi bộ sang phía sau nhà hàng F, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đứng đợi. Lúc này, do sợ bị phát hiện nên Q đem gói ma túy để trên bậc thềm phía sau nhà hàng F, gần chỗ Q đứng. Trong lúc Q đợi K đến thì bị Lực lượng Công an quận Hải Châu phát hiện, bắt quả tang.
Lúc 18 giờ 00 phút ngày 14.9.2023, Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hải Châu tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Q tại nhà số 12 đường A, phường A1, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Phát hiện, thu giữ: 01 cân điện tử màu bạc.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ tại vị trí Q đứng: 01 gói ni lông, kích thước 7,5cm x 4cm, bên trong chứa 01 gói ni lông kích thước 7,5cm x 4cm chứa 05 viên nén màu vàng và 02 gói ni lông kích thước 4cm x 3,5cm, bên trong chứa tinh thể rắn máu trắng, được niêm phong, ký hiệu A.
- Kiểm tra xe mô tô biển số 43F1 – 140.71 đang dựng cách chỗ Q đứng 10 mét, phát hiện trong cốp xe thu giữ 01 gói ni lông kích thước 8,5cm x 7,5cm, màu đỏ đen trắng, có chữ "CHALI", được niêm phong, ký hiệu B. Q khai đây là ma túy nước vui, trước đó Q sử dụng với bạn còn dư nên bỏ trong cốp xe mục đích để sử dụng.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu vàng đồng, biển số 43E1 - 140.71, số khung RLHJF270BY708898, số máy: JF27E1506468;
- 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 13, màu xanh, số Imei 1: 356833117810782, số Imei 2: 356833117065841, gần sim số: 0702.099.203;
Theo Kết luận giám định số 801/KL-KTHS ngày 22/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng, kết luận: Các viên nén màu vàng ký hiệu A1 gửi giám định là loại ma túy MDMA; khối lượng mẫu A1: 2,024 gam. Tinh thể rắn màu trắng ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine; khối lượng mẫu A2: 2,314 gam. Chuyển mẫu thực vật màu đen ký hiệu B đến Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám định, khối lượng mẫu B: 1,971 gam.
Theo Kết luận giám định số 2157/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng: Thực vật khô màu đen gửi giám định không tìm thấy các chất ma túy, tiền chất sử dụng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 tính tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 2 chất ma túy: (2,024/5)x100% + (2,314/20)x100%=52,05%, dưới 100%. Do đó, tổng khối lượng 02 chất ma túy (MDMA và Ketamine) Nguyễn Thanh Q tàng trữ trái phép thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, Nguyễn Thanh Q dương tính với ma túy.
Kết quả điều tra, Nguyễn Thanh Q đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Lời khai của Q phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xử lý vật chứng:
- Kết quả điều tra xác định 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu vàng đồng, biển số 43E1 – 140.71, số khung RLHJF270BY708898, số máy: JF27E1506468 do ông Nguyễn Thanh T (sinh năm: 1979; HKTT: K250H63/02 đường N, phường P, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, là cha ruột của Q hiện đang chấp hành án tại Trại giam B1) đứng tên sở hữu. Ông T đã giao xe lại cho vợ là bà Nguyễn Thị T1 quản lý và sử dụng. Ngày 14.9.2023 bà T1 cho Quốc mượn xe để đi lại, bà không biết việc Q sử dụng xe để đi mua ma túy, sử dụng ma túy. Do đó, ngày 26.10.2023, Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã trả xe cho bà T1.
Chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu để bảo quản trong giai đoạn xét xử và thi hành án:
+ 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 13, màu xanh, số Imei 1: 356833117810782, số Imei 2: 356833117065841, gắn sim số: 0702.099.203;
+ Mẫu A (gồm 1,425 gam mẫu A1; 1,815 gam mẫu A2) và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định theo Kết luận giảm định 801 ngày 22.9.2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng;
+ 01 cân điện tử màu bạc.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu vàng đồng, biển số 43E1 – 140.71, số khung RLHJF270BY708898, số máy: JF27E1506468do ông Nguyễn Thanh T là cha ruột của Q hiện đang chấp hành án tại Trại giam B1 đã giao xe lại cho vợ là bà Nguyễn Thị T1 quản lý và sử dụng. Ngày 14.9.2023 bà T1 cho Q mượn xe để đi lại, bà không biết việc Q sử dụng xe để đi mua ma túy, sử dụng ma túy. Do đó, ngày 26.10.2023, Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã trả xe cho bà T1 là phù hợp.
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định theo Kết luận giảm định 801 ngày 22.9.2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng và 01 cân điện tử màu bạc .
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 13, màu xanh, số Imei 1: 356833117810782, số Imei 2: 356833117065841, gắn sim số: 0702.099.203.
Nguyễn Thanh Q có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với B là người bán ma túy cho Q sau khi mua ma túy xong Q đã xóa hết các cuộc gọi, tin nhắn với người này trên ứng dụng Telegram nên không xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu không đủ cơ sở để kết luận xử lý.
Đối với đối tượng tên Kh người hẹn Q để sử dụng ma túy không xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma tủy, Nguyễn Thanh Q đã mua từ một người (không rõ lai lịch) 05 viên ma túy thuốc lắc và nứa hộp ma túy Ketamine. Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 14.9.2023, Q đem số ma túy trên đến để trên bậc thềm phía sau nhà hàng F, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, chờ K đến rồi vào T Club để sử dụng thì bị Lực lượng Công an quận Hải Châu phát hiện bắt quả tang. Tổng khối lượng 02 chất ma túy Quốc tàng trữ là 4,338 gam (gồm: 2,024 gam MDMA; 2,314 gam Ketamine).
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai liên quan đến vụ án, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận bị Nguyễn Thanh Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự theo Cáo trạng số 127/CT-VKS ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người trưởng thành, là thanh niên có sức khỏe, đang trong độ tuổi lao động, đáng lẽ ra bị cáo phải ý thức được mình nên làm những gì để có ích cho gia đình. Bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt nhưng không lấy đó để tiếp tục làm công dân tốt mà đi vào con đường phạm tội, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Riêng về ma túy Nhà nước đã có chính sách quản lý độc quyền nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo phải bị xử phạt, cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với các vật chứng là ma túy và toàn bộ vỏ bao gói hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 801/KL-KTHS ngày 22/9/2023 của của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Đối với 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 13, màu xanh, số Imei 1: 356833117810782, số Imei 2: 356833117065841, gắn sim số: 0702.099.203 là điện thoại của bị cáo Q dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu vàng đồng, biển số 43E1 – 140.71, số khung RLHJF270BY708898, số máy: JF27E1506468 do ông Nguyễn Thanh T là cha ruột của Quốc hiện đang chấp hành án tại Trại giam B1 đã giao xe lại cho vợ là bà Nguyễn Thị T1 quản lý và sử dụng. Ngày 14.9.2023 bà T1 cho Q mượn xe để đi lại, bà không biết việc Q sử dụng xe để đi mua ma túy, sử dụng ma túy. Do đó, ngày 26.10.2023 Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã trả xe cho bà T1 là phù hợp.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ.
Xét các đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
I. Tuyên bố Nguyễn Thanh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/9/2023.
II. Xử lý vật chứng:
1. Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm: Ma túy và toàn bộ vỏ bao gói hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 801/KL-KTHS ngày 22/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.
2. Áp dụng điểm a khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 13, màu xanh, số Imei 1: 356833117810782, số Imei 2: 356833117065841, gắn sim số: 0702.099.203 của bị cáo Q.
Các vật chứng nói trên Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng hiện đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15 tháng 01 năm 2024.
III. Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Thanh Q phải chịu 200.000đ.
IV. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu; - Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng; - Công an quận Hải Châu; - Chi cục THADS quận Hải Châu; - Cơ quan THAHS quận Hải Châu; - Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |