vanban.org

Bản án 07/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 23/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/11/2023. Tịch thu, tiêu hủy bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu A1 = 0,1652g còn lại sau giám định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẠC
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HS-ST
Ngày: 23/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC -TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khảm và ông Trần Văn Học

- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Hồng Phương, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2023/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh ngày 12 tháng 7 năm 1978; nơi sinh: xã NT, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi đăng kí HKTT: Thôn L, xã NT, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi ở hiện tại: Thôn 6, xã TR, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Th (đã chết), con bà Vũ Thị Ch; Có vợ là Đỗ Thị B và có 04 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

+ Tại bản án số 03/HSST ngày 17/4/2001 của Tòa án quân sự khu vực 2 - Quân khu 2 xử phạt 24 tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Ngày 01/5/2002 chấp hành xong án phạt tù.

+ Tại bản án số 10/HSST ngày 16/4/2003 của TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 05/7/2004 chấp hành xong án phạt tù.

+ Tại bản án số 26/2005/HSST ngày 09/5/2005 của TAND huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 60 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16/4/2009 chấp hành xong án phạt tù.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Lạc. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2016 đến nay chưa từ bỏ được. Khoảng 12h30’ ngày 04/11/2023, tại đoạn đường liên thôn thuộc tổ dân phố TP, thị trấn Tam Hồng, huyện Yên Lạc, N đang trên đường đi mua ma túy về nhà sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Lạc bắt quả tang N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: Thu tại bàn tay trái của Nguyễn Văn N 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói nhỏ nilon, bên trong bọc giấy chứa chất bột cục màu trắng (N khai nhận là ma túy heroine của Trần Văn Th, sinh năm 1979 ở thôn 4, xã TR, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc mua được đưa cho N cầm để cùng nhau sử dụng), niêm phong ký hiệu A1; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS 88F1 - 46.386 của N.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang, Nguyễn Văn N khai nhận: Khoảng 12h00’ ngày 04/11/2023, N đang ở nhà thì có Trần Văn Th đến rủ N lên khu vực Đền Thính thuộc tổ dân phố Bàng Mới, thị trấn Tam Hồng, huyện Yên Lạc để mua ma túy cùng nhau sử dụng, N đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô BKS 88F1 - 46.386 của vợ N là chị Đỗ Thị B, chở Th đi mua ma túy. Khi đến khu vực cổng Đền Thính, Th bảo N đứng đợi ở ngoài, còn Th đi vào bên trong Đền Thính mua ma túy. Khoảng 03 phút sau, Th quay ra bảo với N đã mua được ma túy thì N điều khiển xe mô tô chở Th về xã TR để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đến đoạn đường liên thôn thuộc tổ dân phố TP, thị trấn Tam Hồng, Th bảo N dừng xe để Th đi mua xi lanh và đưa cho N cầm vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong đựng 01 gói ma túy. Khi N đang cầm gói ma túy đứng đợi Th thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Lạc bắt quả tang và thu giữ tang vật theo quy định.

Tại Bản Kết luận giám định số 3019/KLGĐ ngày 08/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,2163g (không phảy hai một sáu ba gam, không kể bao bì) là ma túy, loại heroine.

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKS, ngày 28/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật ký hiệu A1 = 0,1652g còn lại sau giám định. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bào chữa gì thêm và nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 12h30’ ngày 04/11/2023, tại khu vực đường liên thôn thuộc tổ dân phố TP, thị trấn Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ công tác Công an huyện Yên Lạc phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói ma túy, theo kết luận giám định là ma túy, loại heroine, có khối lượng 0,2163g; 01 xe mô tô, BKS 88F1 - 46.386.

Hành vi của Nguyễn Văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, nội dung điều luật quy định:“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy...thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Việc sử dụng ma túy gây ảnh hưởng đến sức khỏe cho chính bản thân người nghiện, gây tác hại đến cả gia đình và toàn xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội khác, gây mất trật tự xã hội tại địa phương.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xét xử về tội “Hiếp dâm”, “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo, chiếm đoạt tài sản”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân có ích. Sau khi chấp hành xong thời hạn tù trở về địa phương, mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn sử dụng ma túy gây hại cho bản thân, gia đình và xã hội, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương, thể hiện bị cáo là con người khó cải tạo nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định, tại địa phương bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS 88F1 - 46.386 Nguyễn Văn N dùng làm phương tiện đi mua ma túy là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Đỗ Thị B. Khi cho N mượn xe chị B không biết N sử dụng vào mục đích phạm tội. Ngày 03/12/2023, cơ quan CSĐT - Công an huyện Yên Lạc đã trả lại chiếc xe trên cho chị B.

Đối với bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu A1 = 0,1652g còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

. Về các vấn đề khác: Đối với nam giới tên Trần Văn Th, quá trình điều tra cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập Th lên làm việc nhưng Th đều không có mặt tại địa phương. Ngày 13/01/2024, Th bị Công an xã TR bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của Th, cho bị cáo và Th đối chất nhưng Th không thừa nhận. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh việc Th là người mua ma túy cho bị cáo nên không đủ căn cứ để xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/11/2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Tịch thu, tiêu hủy bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu A1 = 0,1652g còn lại sau giám định.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2024 giữa Công an huyện Yên Lạc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc).

- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ