vanban.org

Bản án 07/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 27/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Nguyễn Quang H 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về tiền án phí: Bị cáo Nguyễn Quang H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Quang H 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HS-ST
Ngày 27/02/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Trần Văn Thiện

2. Bà: Giáp Thị Hiền

Thư ký phiên toà: Bà Đồng Khánh Ly – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quang H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 28 tháng 6 năm 1986. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12;

Con ông: Nguyễn Quang H1;Con bà Hoàng Thị V; Vợ: Nguyễn Thị Y; Bị cáo có 2 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: không có

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

+Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Dương Công T, sinh năm 1950.

2. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1950

3. Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1981

4. Cháu Dương văn T3, sinh năm 2001

5. Cháu Dương Công T4, sinh năm 2007.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

- Người đại diện theo ủy quyền của bà T1, chị T2, cháu T3, cháu T4 là ông

Dương Công T, sinh năm 1950 (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: Thôn Đ, xã

Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đồng Văn P – Chủ tịch UBND xã L

(có đơn xin vắng mặt).

- Anh Nguyễn Thế A, sinh năm 1981 (vắng mặt)

- Địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Anh Vũ Văn T5, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/9/2023, Nguyễn Quang H, điều khiển xe ô tô tải, màu sơn xanh, biển kiểm soát: 20C - 059.33 chở đất từ xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang về công trình làm đường tại xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe đi theo hướng xã Đ đi xã L. Khi đi đến đoạn đường liên xã thuộc thôn Đ, xã L, huyện T (khu vực nghĩa trang N thôn Đ, xã L), Hải quan sát thấy anh Dương Văn H2 - sinh năm 1976 trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện T điều khiển xe mô tô Future, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 98H1 - 354.45 đi ngược chiều, cách xe H khoảng 40-50 mét. H tiếp tục cho xe di chuyển. Khi xe của H cách xe của anh H2 khoảng 20m - 30m thì H thấy anh H2 đi sang phần đường của H thì H bấm còi để cảnh báo đồng thời rà phanh. Khi hai xe cách nhau khoảng 05m, anh H2 vẫn đi ở phần đường bên phải theo chiều đi của H nên H điều khiển xe đánh lái sang phần đường bên trái của mình để tránh thì anh H2 lại điều khiển xe sang phần đường bên trái theo chiều đi của H. Do khoảng cách gần nên phần ba đờ sốc trước, mặt ngoài cụm đèn chiếu sáng bên phải xe ô tô do H điều khiển va chạm với đầu tay nắm bên trái, đèn, mặt nạ, cánh yếm bên trái xe mô tô do anh H2 điều khiển. Sau va chạm, xe của H di chuyển tiếp về phía trước va chạm với tường rào nghĩa trang và đổ nghiêng trái trên bãi đất nghĩa trang (bên trái đường hướng xã Đ đi xã L) còn xe mô tô của anh H2 đổ nghiêng phải rê trượt trên mặt đường. Anh H2 nằm bất tỉnh cạnh xe mô tô sau đó được mọi người đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đường liên xã Đ - L, thuộc thôn Đ, xã L, huyện T. Đoạn đường ngoặt về bên phải theo hướng xã Đ đi xã L, mặt đường trải nhựa phẳng, rộng 7,45m, hai bên đường có lề đất. Quá trình khám nghiệm lấy mép đường bên phải theo hướng xã L đi xã Đ làm chuẩn. Xác định cột biển báo giao thông W.207c (biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiền) trên lề đường bên trái làm mốc. Tại hiện trường phát hiện:

- Vết cày xước mặt đường, ký hiệu (1), kích thước (0,035 x 0,29)m, chiều hướng xã L đi xã Đ, chếch chéo từ giữa đường sang lề đường bên phải. Điểm đầu vết cách điểm mốc 14,1m, cách mép đường làm chuẩn 3,45m, cách tâm đường 0,28m. Điểm cuối vết cách mép đường làm chuẩn 3,25m.

- Vết cày xước mặt đường dạng không liên tục, ký hiệu (2), kích thước (0,8 x 8,45)m, chiều hướng xã Đ đi xã L. Điểm đầu vết cách điểm đầu vết (1) là 0,28m về hướng xã L, cách mép đường làm chuẩn 3,35m. Điểm cuối vết cách mép đường làm chuẩn 0,3m và trùng với để chân trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98H1 – 354.45.

- Bịch túi nilon (bên trong có nhiều cuộn giấy vệ sinh), ký hiệu (3), kích thước (0,75 x 0,47 x 0,39)cm, cách điểm đầu vết (1) là 6,05m về hướng xã L, cách mép đường làm chuẩn 1,3m.

- Đám mảnh nhựa vỡ trên mặt đường, ký hiệu (4), kích thước (0,6 x 1,6)m. T6 vết cách điểm đầu vết (1) là 7,5m về hướng xã L, cách mép đường làm chuẩn 1,5m.

- Dấu vết máu trên mặt đường, ký hiệu (5), kích thước (0,35 x 2,2)m. T6 vết cách điểm đầu vết (1) là 7,9m, cách mép đường làm chuẩn 2,3m.

- Xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 354.45, ký hiệu (6), đổ nghiêng phải trên đường. Đầu xe quay hướng xã L, đuôi xe quay hướng xã Đ. Trục bánh trước nằm trên lề đường, cách mép đường làm chuẩn 0,25m. Trục bánh sau trùng với mép đường làm chuẩn, cách điểm đầu vết (1) là 08m về hướng xã L.

- Xe ô tô biển kiểm soát 20C - 059.33, ký hiệu (7), đổ nghiêng trái ngoài lề đường bên phải (theo hướng xã L đi xã Đ). Đầu xe quay hướng xã L, đuôi xe quay hướng xã Đ. Trục bánh sau bên trái xe cách điểm đầu vết (1) là 8,4m, cách mép đường làm chuẩn 3,05m. Trục bánh trước bên trái cách mép đường làm chuẩn 5,4m.

- Bức tường bao ngoài nghĩa trang N thôn Đ, xã L bị đổ, ký hiệu (8). Đoạn tường đổ dài 7,15m, rộng 0,13m, cao 1,45m, tường đổ có 04 cột trụ tường kích thước (0,25 x 0,25 x 1,45)m.

Mở rộng hiện trường về hướng đi xã Đ trước vị trí xảy ra tai nạn có biển cảnh báo chỗ ngoặt nguy hiểm vòng bên phải W.201b. Hướng đi xã L trước vị trí xảy ra tai nạn có biển cảnh báo chỗ ngoặt nguy hiểm vòng bên trái W.201a.

Quá trình khám nghiệm đã thu giữ: 01 xe mô tô Future, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 98H1 - 354.45, 01 xe ô tô tải, màu sơn xanh, biển kiểm soát 20C

- 059.33. Thu giữ của Nguyễn Quang H 01 đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 20C - 059.33, 01 giấy chứng nhận kiểm định số 7809721 của xe ô tô biển kiểm soát 20C-059.33, 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Quang H.

Cơ quan điều tra Công an huyện T làm việc với Phòng kinh tế hạ tầng huyện T xác định: vị trí xảy ra tai nạn nằm trong đoạn cong cua giữa hai biển cảnh báo nguy hiểm là W.201a (biển cảnh báo nguy hiểm chỗ ngoặt nguy hiểm vòng trái) theo hướng xã L đi xã Đ và biển cảnh báo nguy hiểm W.201b (biển cảnh báo nguy hiểm chỗ ngoặt nguy hiểm vòng phải) theo hướng xã Đ đi xã L.

Ngày 17/11/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra để xác định vị trí va chạm giữa hai phương tiện. Quá trình thực nghiệm tiến hành dựng xe mô tô dậy từ vị trí điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1, đầu xe hướng đi xã Đ, đồng thời cho xe ô tô tịnh tiến theo hướng xã Đ đi xã L cho đến khi các dấu vết va chạm giữa xe ô tô và xe mô tô tiếp xúc với nhau như kết luận giám định. Tiến hành đo đạc để xác định vị trí xe ô tô và xe mô tô trên đường. Lòng đường vị trí xảy ra tai nạn rộng 7,45m, lấy mép đường bên phải theo hướng xã L đi xã Đ làm chuẩn; Trục bánh trước xe mô tô cách mép đường chuẩn 3,6m, trục bánh sau cách mép đường chuẩn 3,8m; Lúc này trục bánh trước xe mô tô ở phần đường bên phải, trục bánh sau ở phần đường bên trái. Trục bánh trước bên trái xe ô tô cách mép đường chuẩn 2,4m, trục bánh sau bên trái xe ô tô cách mép đường chuẩn 3,3m, trục bánh trước bên phải xe ô tô cách mép đường chuẩn 4,7m, trục bánh sau bên phải xe ô tô cách mép đường chuẩn 5,6m.

Tiến hành đưa xe mô tô vào vị trí theo lời trình bày của Nguyễn Quang H là vị trí bắt đầu thấy xe mô tô ở phía trước, lúc này xe mô tô ở vị trí trục bánh trước cách mép đường chuẩn 3,5m, trục bánh sau cách mép đường chuẩn 3,7 mét. Từ vị trí hai xe va chạm, tịnh tiến lùi xe ô tô đến điểm đầu dấu vết phanh theo lời trình bày của Nguyễn Quang H và đưa xe mô tô đến vị trí anh H trình bày là khi H bắt đầu phanh xe và đánh lái:

+ Xe tô tô ở vị trí: trục bánh trước bên trái cách mép đường chuẩn 3 mét, cách điểm đầu dấu vết (1) là 7,4 mét. Trục bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn 3,3 mét. Trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn 5,3 mét. Trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn 5,6 mét.

+ Xe mô tô ở vị trí: trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn 6,7 mét, cách trục bánh trước bên phải xe ô tô 17,6 mét, cách dấu vết cày xước (1) là 11, 87 mét. Trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 6,8 mét.

- Kết quả khám phương tiện xe mô tô số loại Future, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 98H1 - 354.45:

Gương chiếu hậu bên phải gãy rời khỏi xe. Gương chiếu hậu bên trái gãy cụm mặt gương rời khỏi chân gương. Tay lái bên phải cong vênh hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới. Ốp nhựa đầu xe, mặt lạ, cụm đèn chiếu sáng phía trước vỡ nhựa, hư hỏng hoàn toàn. Cụm đồng hồ công tơ mét vỡ nhựa, hư hỏng, treo ở xe. Lọc gió động cơ nứt vỡ nhựa treo ở xe. Đầu tay nắm bên phải có vết mài sát kim loại, kích thước (3 x 2,5)cm. Đầu tay phanh bên phải có vết mài sát kim loại, kích thước (1 x 1)cm. Mặt ngoài hộp dầu phanh bên phải có vết mài sát kim loại, kích thước (2,5 x 1)cm. Đuôi đèn trợ sáng bên phải có vết mài sát kim loại, kích thước (4 x 1)cm. Đầu tay nắm bên trái có vết mài sát kim loại bám dính chất màu xanh, kích thước (1 x 0,5)cm. Cụm đèn tín hiệu bên trái nứt vỡ nhựa, hư hỏng, trên bám dính chất màu xanh trên diện (17 x 14)cm. Cánh yếm bên phải nứt vỡ nhựa, mặt ngoài có vết mài sát sơn nhựa, kích thước (54 x 26)cm. Cánh yếm bên trái vỡ khuyết nhựa. Đầu chắn bùn bánh trước nứt vỡ nhựa, trên có nhiều vết mài sát sơn nhựa bám dính chất màu xanh trên diện (42 x 25)cm. Để chân trước bên phải bật ốp cao su, cong vênh hướng từ trên xuống dưới, đầu có vết mài sát kim loại, kích thước (1 x 1)cm. Cần khởi động gãy rời khỏi xe. Cần phanh chân bên phải gãy rời khỏi xe. Khung kim loại bảo vệ vỏ máy bên phải và vỏ nhựa máy bên phải bẹp méo hướng từ phải sang trái, mặt ngoài có vết mài sát kim loại, nhựa, bám dính bụi đất, dầu nhớt, kích thước (14 x 14)cm. Mặt ngoài ống xả bên phải có vết mài sát kim loại, kích thước (4 x 1,5)cm. Ốp kim loại bảo vệ ống xả bẹp méo, mặt ngoài có vết mài sát kim loại, kích thước (38 x 8)cm. Ốp nhựa sườn xe bên phải có vết mài sát sơn nhựa, kích thước (22 x 12)cm. Cạnh ngoài tay sách phía sau bên phải có vết mài sát kim loại kích thước (3 x 0,3)cm. Cần chuyển số cong vênh, hướng từ dưới lên trên. Để chân trước bên trái cong vênh hướng từ dưới lên trên. Hệ thống lái, phanh, đèn, còi không còn tác dụng.

- Kết quả khám phương tiện xe ô tô tải, màu sơn xanh, biển kiểm soát 20C - 059.33:

Gương chiếu hậu bên trái xô lệch, nứt vỡ mặt gương. Kính chắn gió cánh cửa bên trái vỡ hoàn toàn. Cánh cửa bên trái bẹp méo, chiều hướng từ ngoài vào trong, kích thước (92 x 70)cm. Ốp nhựa đèn xi nhan trên cánh cửa bên trái vỡ nhựa hoàn toàn. Ốp nhựa hai bên đầu xe vỡ nhựa, bật khớp định vị rời khỏi xe. Mặt trước ốp kim loại đầu xe bên phải (phía sau ốp nhựa đầu xe bên phải) có nhiều vết mài sát sơn kim loại, trên diện (35 x 35)cm. Điểm thấp nhất cách đất 135cm. Cạnh phải ba đờ sốc trước cong vênh, bẹp méo hướng từ trước về sau, trên có nhiều vết mài sát, bong tróc sơn, bám dính chất màu nâu, trên diện (85 x 60)cm. Mặt trước ốp nhựa cụm đèn chiếu sáng trước bên phải có vết mài sát nhựa, bám dính chất màu nâu đỏ, kích thước (17 x 17)cm. Mặt trước ốp nhựa đèn sương mù phía trước bên phải có nhiều vết mài sát nhựa, kích thước (27 x 8)cm. Đầu trục và các thanh kim loại giảm sóc trước bên phải có vết mài sát kim loại trên diện (40 x 18)cm. Mặt trước cạnh phải lưới tản nhiệt có vết mài sát kim loại, kích thước (14 x 4)cm. Hệ thống lái, phanh, đèn, còi còn tác dụng.

* Kết quả khám nghiệm tử thi Dương Văn H2:

- Khám ngoài: Vùng thái dương đỉnh phải có đám chợt da bầm tím kích thước (12x8)cm xung quanh sưng nề kích thước (14x10)cm. Hai mắt nhắm tự nhiên, mũi miệng đọng máu màu đỏ, tai phải chảy máu màu đỏ, góc ngoài mắt trái có vết chợt da, kích thước (4 x 1)cm. Má trái có vết chợt da, kích thước (6 x 1)cm. Môi trên có vết chợt da, kích thước (1 x 0,5)cm. Môi dưới bầm dập, kích thước (3 x 1)cm. Cằm có vết bầm tím, kích thước (4 x 1,5)cm. Cổ chắc, cổ trái có vết chợt da bầm tím, kích thước (4 x 1,5)cm. Vai phải có vết bầm tím, kích thước (6 x 4)cm. Đầu trong xương đòn phải có vết xước da, kích thước (2 x 0,2)cm. Ngực trái có nhiều vết chợt da nhỏ trên diện (27 x 10)cm. Bụng, lưng, mông không thấy dấu vết thương tích. Khuỷu tay phải có vết chợt da, kích thước (3,5 x 1,5)cm. Cẳng tay phải và mu bàn tay phải có đám chợt da bầm tím, kích thước (28 x 12)cm. Cổ tay trái có vết chợt da, kích thước (3 x 1,5)cm. Bàn tay trái có vết chợt da, kích thước (1 x 0,5)cm. Mặt trước đùi phải có đám bầm tím, kích thước (20 x 7)cm. Gối phải có đám chợt da, kích thước (10 x 5)cm. Mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải có đám chợt da, kích thước (12 x 6)cm. Mặt trước 1/3 dưới cẳng chân phải có đám chợt da, kích thước (5 x 1)cm. Mắt cá trong chân phải có đám chợt da bầm tím, kích thước (8 x 2)cm. Mắt cá ngoài và mặt ngoài mu bàn chân phải có vết chợt da, kích thước (12 x 3)cm. Ngón 5 bàn chân phải có vết chợt da, kích thước (4 x 1,5)cm. Mặt trước đùi trái có vết bầm tím chợt da, kích thước (12 x 3)cm. Gối trái có vết chợt da, kích thước (6 x 2)cm. Khoeo chân trái có vết chợt da, kích thước (6 x 1,5)cm. Mặt trong 1/3 trên cẳng chân trái có vết bầm tím chợt da, kích thước (7 x 3)cm. Mu bàn chân trái có vết xước da, kích thước (6 x 1,5)cm.

- Mổ tử thi: bộc lộ da đầu vùng thái dương đỉnh phải thấy tụ máu dưới da, kích thước (10 x 9)cm, dày 01cm. Vỡ lún xương sọ vùng thái dương phải, kích thước (4 x 3)cm, qua khe xương vỡ có máu màu đỏ chảy ra ngoài.

* Tại Bản kết luận giám định số 4654/KLGĐTT-TTPY ngày 10/10/2023 của Trung tâm pháp y, Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:

- Nguyên nhân chết: Chết do chấn thương sọ não, chảy máu nội sọ, vỡ xương sọ do tai nạn giao thông.

* Tại Bản kết luận giám định số 567/749-750/23/KLGĐĐC-PYQG ngày 02/10/2023 của V1 kết luận:

Trong mẫu máu của anh Dương Văn H2: Có tìm thấy E với hàm lượng 114.96mg/100ml. Không tìm thấy các chất ma túy.

* Tại Bản kết luận giám định 2120/KL-KTHS ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

1. Dấu vết chùn cong, mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính chất màu đen, đỏ (dạng sơn) tại bên phải ba đờ sốc trước, mặt ngoài cụm đèn chiếu sáng của xe ô tô biển kiểm soát 20C - 059.33, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 13, 14, 15, 17 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết gãy vỡ, mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính chất màu xanh (dạng sơn) tại đầu tay nắm bên trái, đèn pha, xi nhan trước bên trái, mặt nạ, cánh yếm bên trái, 1/2 trước chắn bùn bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 354.45 trong tư thế đứng, có chiều hướng từ trước về sau (ảnh số 15, 16, 20, 21, 23 bản ảnh khám phương tiện).

2. Dấu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính bột đá tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 354.45 gồm: đầu tay nắm, đầu tay phanh, đèn trợ sáng bên phải, cánh yếm, để chân trước, khung kim loại bảo vệ máy, ốp sườn xe, ống xả, được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 354.45 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường tạo nên dấu vết cày xước và dấu bắn ký hiệu số 1, số 2.

Dấu vết gãy vỡ, bẹp méo, mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính đất, bê tông tại bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 20C - 059.33 gồm: cụm đèn phía trước, ba đờ sốc trước, gương chiều hậu bên trái, cánh cửa cabin phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe ô tô biển kiểm soát 20C - 059.33 bị đổ lật nghiêng trái ở bên phải đường, va chạm với tường bao của nghĩa trang N thôn Đ tạo nên.

3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 20C - 059.33 với xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 354.45 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước và dầu bắn ký hiệu số 1 và số 2, không xác định được thuộc chiều chuyển động bên phải hay bên trái tính theo hướng xã L đi xã Đ.

4. Chiều hướng va chạm: tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện ngược chiều nhau.

5. Ngoài dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 20C - 059.33 với xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 354.45, trên hai phương tiện gửi giám định không phát hiện thấy dấu vết va chạm với phương tiện khác.

6. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 43/KL-ĐGTS ngày 15/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:

Sửa chữa, thay thế các thiết bị hỏng (theo thông tin và đặc điểm yêu cầu định giá ở trên) của xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Future FI, biển kiển soát 98H1 - 354.45, đăng ký năm 2021 trị giá: 3.155.000đ. Căn cứ biên bản giám định tình trạng kỹ thuật, tỷ lệ chất lượng còn lại của tài sản do cơ quan Cảnh sát điều tra cung cấp; tỷ lệ còn lại của tài sản 70%. Do vậy giá trị thiệt hại còn: 3.155.000 x 70% = 2.208.000đ (Hai triệu, hai trăm linh tám nghìn đồn).

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 44/KL-ĐGTS ngày 15/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:

Đoạn tường bao xây bằng gạch bê tông, bên ngoài chát vữa, quét ve màu vàng được xây dựng từ năm 2018 bị đổ, hư hỏng dài 7,15m, rộng 0,13m, cao 1,45m, trên đoạn tường đổ có 4 trụ tường kích thước (0,25 x 0,25 x 1,45)m có giá trị thiệt hại là: (7,15x 1,45) = 10,36m x 290.000đ/m2 = 10.544.000đ x 50% 5.272.000đ (Năm triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng).

Ngày 25/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra có văn bản đề nghị Trung tâm Đ xác định tình trạng an toàn kỹ thuật của xe ô tô biển kiểm soát 20C-059.33.

Tại thông báo hạng mục khiếm khuyết, hư hỏng ngày 25/10/2023 của Trung tâm Đ xác định xe ô tô biển kiểm soát 20C-059.33 có khiếm khuyết hư hỏng sau:

- Khiếm khuyết hư hỏng quan trọng: Bánh xe: Lốp nứt, vỡ, phồng rộp làm hở lớp sợi mành. Đèn chiếu sáng phía trước: Lắp đặt không đúng vị trí, không chắc chắn. Đèn báo rẽ (xin đường) và đèn báo nguy hiểm: Không đầy đủ, vỡ. Đèn phanh: Không đầy đủ, vỡ. Thiết bị bảo vệ thành bên và phía sau: Không đầy đủ, lắp đặt không chắc chắn. Thân vỏ, buồng lái, thùng hàng: Không đúng kiểu loại, lắp đặt không chắc chắn, không cân đối trên khung; Nét, gãy, thủng, mục gỉ, rách, biến dạng, sơn bong tróc; Kích thước thùng hàng không đúng với hồ sơ kỹ thuật.

- Khiếm khuyết, hư hỏng nguy hiểm: Hiệu quả phanh trên băng thử: Hệ số sai lệch lực phanh giữa hai bánh trên cùng một trục Ksl lớn hơn 25%.

- Đèn chiếu sáng không chắc chắn; Thân vỏ móp méo; Cao thùng hàng thừa 660mm; Xe hết hạn kiểm định ngày 02/11/2022; Xe có niên hạn sử dụng đến ngày 31/12/2038.

Căn cứ kết quả kiểm định ngày 25/10/2023 và thông báo hạng mục khiếm khuyết hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 20C-059.33. Trung tâm Đ1 xác định: không đủ căn cứ xác định các hư hỏng khiếm khuyết nào của xe ô tô biển kiểm soát 20C-05933 là do tai nạn giao thông gây ra do không có căn cứ xác định tình trạng của xe trước khi xảy ra tai nạn.

Cơ quan điều tra đã kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy đối với Nguyễn Quang H thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông. Kết quả H âm tính với ma tuý, nồng độ cồn là 0.000mg/lit.

Cơ quan điều tra Công an huyện T đề nghị Sở giao thông vận tải tỉnh B tra cứu giấy phép lái xe của Nguyễn Quang H. Kết quả tra cứu: Nguyễn Quang H đã được cấp 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C, số 240083244504, cấp ngày 06/09/2021, ngày hết hạn 06/09/2026.

* Về trách nhiệm dân sự: bị cáo H đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 190.000.000 đồng và xây lại đoạn tường bị hư hỏng của nghĩa trang thôn Đ, xã L. Ông Dương Công T và UBND xã L không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Quang H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại cáo trạng số: 06/CT-VKS - ngày 23-01-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Nguyễn Quang H về tội “vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên Tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi trình bầy bản luận tội đã phân tích, đánh giá về nguyên nhân phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử.

Áp dụng Điểm a, khoản 1 điều 260; Điểm b, Điểm s, Khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Quang H từ 12 tháng đến 14 tháng tù về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng đến 28 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo H cho UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự: Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho đại diện người bị hại số tiền 190.000.000đ (một trăm chín mươi triệu đồng) và xây lại đoạn tường bị hư hỏng của nghĩa trang xã L, huyện T nay Đại diện hợp pháp cho bị hại và đại diện UBND xã L, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

* Về vật chứng: Đã được xử lý trong giai đoạn điều tra.

- 01 xe mô tô số loại Future, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 98H1 - 354.45 là anh Dương Văn H2. Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho người đại diện hợp pháp của anh H2 là ông Dương Công T.

- 01 xe ô tô tải, màu sơn xanh, biển kiểm soát 20C - 059.33 là của bị cáo H mua lại của anh Vũ Văn T5. Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe ô tô trên và 01 đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 20C - 059.33, 01 giấy chứng nhận kiểm định số 7809721 của xe ô tô biển kiểm soát 20C - 059.33 cho bị cáo H.

Bị cáo H không tranh luận gì đối với bản luận tội của Đại diện viện kiểm sát.

Bị cáo H nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải, khắc phục hậu quả, hoàn cảnh gia đình khó khăn mẹ già thường xuyên ốm đau. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa đại diện người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng quá trình giải quyết của vụ án, căn cứ Điều 292; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về tội danh và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện tham gia giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định, phù hợp với thương tích trên người bị hại phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/9/2023 tại đoạn đường liên xã thuộc thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Quang H (có giấy phép lái xe ô tô hạng C) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 20C - 059.33 không cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy khi tránh xe đi ngược chiều, không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại an toàn khi có biển cảnh báo nguy hiểm và qua nơi đường vòng dẫn đến va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 354.45 do anh Dương Văn H2 điều khiển đi ngược chiều, hậu quả làm anh H2 tử vong.

Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm an toàn công cộng, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, Xâm phạm tính mạng sức khỏe của nhân dân, hậu quả hành vi của bị cáo gây thiệt hại nghiêm trọng làm cho anh Dương Văn H2 tử vong. Hành vi đó đã vi phạm khoản 1 Điều 17, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và khoản 1, khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Về mặt chủ quan; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho đại diện của bị hại và UBND xã L; đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. UBND xã L không yêu cầu bồi thường gì. Nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét nhân thân, đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, trước khi phạm tội là Đảng viên luôn chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước, đã tham gia nghĩa vụ quân sự năm 2006 được tặng giấy khen hoàn thành tốt nhiệm vụ, sau khi phạm tội đã tích cực khắc phục hậu quả, đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS, hơn nữa trong vụ án này bị hại có phần lỗi khi tham gia giao thông có nồng độ Ethanol với hàm lượng 114,96mg/100ml. Xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cải tạo, giáo dục bị cáo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo H đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 190.000.000 đồng (một trăm chín mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì về việc bồi thường dân sự, UBND xã L do ông Đồng Văn P không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.

Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô số loại Future, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 98H1 - 354.45 là anh Dương Văn H2. Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho người đại diện hợp pháp của anh H2 là ông Dương Công T.

- 01 xe ô tô tải, màu sơn xanh, biển kiểm soát 20C - 059.33 là của bị cáo H mua lại của anh Vũ Văn T5. Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe ô tô trên và 01 đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 20C - 059.33, 01 giấy chứng nhận kiểm định số 7809721 của xe ô tô biển kiểm soát 20C - 059.33 cho bị cáo H.

Đối với hành vi của bị cáo H điều khiển xe ô tô đã hết hạn kiểm định từ ngày 02/11/2022 và không làm thủ tục đăng ký sang tên, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu và 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, mang tên Nguyễn Quang H đến Đội cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Về tiền án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 260, điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; Bộ luật hình sự. Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt Nguyễn Quang H 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo H cho UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự: Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tiền án phí: Bị cáo Nguyễn Quang H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống án vắng mặt hoặc kể từ ngày niêm yết bản án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ