- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2024/HS-ST Ngày 26 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI
Thành phần những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu trung tâm:
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lồ Củi Thuỷ
Ông Sùng Seo Chử
T ký phiên toà: Ông Nhâm Đình M – T ký Toà án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Thành phần những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
Ông Phan Quốc Vương - T ký Toà án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai: Ông Trần Văn Hùng – Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 6 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử – Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, với điểm cầu thành phần là Phòng trực tuyến Nhà tạm giữ Công an huyện M đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN M; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 11 tháng 6 năm 1986 tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai; Đăng ký Tờng trú và nơi ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố X, thị trấn M, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Long Kim V. Bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án: 01, tại Bản án số 27/2018/HSST ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh B xét xử Nguyễn Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và xử phạt 07 năm 06 tháng tù, ngày 09/01/2023 Nguyễn Văn M chấp hành xong hình phạt tù của bản án, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là người Tờng xuyên sử dụng chất ma tuý. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/HSST ngày 10/6/2004 của Toà án nhân dân huyện M xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 09 tháng tù Nng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/HSST ngày 01/02/2008 của Toà án nhân dân huyện M xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 18 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/HSST ngày 01/02/2008 của Toà án nhân dân huyện M xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Long Kim V – Sinh năm 1953. Địa chỉ: Tổ dân phố Xóm Mới, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Giàng Seo L – Sinh năm 2002.
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt N sau:
Khoảng 13 giờ ngày 09/4/2024, do nghiện chất ma tuý và muốn có ma tuý để sử dụng cho bản thân nên Nguyễn Văn M đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24Y1-076.61 theo đường Quốc lộ 4D từ Mường Khương ra thành phố Lào Cai để tìm mua ma tuý. Trên đường đi M sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu tím than có lắp sim số thuê bao xxxxxxxxxx liên lạc với số thuê bao xxxxxxxxxx để hỏi mua ma tuý về sử dụng thì được hẹn đi đến khu vực Đền Cấm thuộc phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Khi đến địa điểm hẹn trên, M gặp 02 người gồm 01 nam giới và 01 nữ giới khoảng 25 tuổi đi trên xe máy Honda wave màu trắng không rõ biển kiểm soát, M không biết tên, tuổi địa chỉ của hai người này. M đã mua của người đàn ông 04 gói nhỏ ma tuý với giá 1.000.000 đồng và cất giấu ma tuý vào trong túi áo phía trước, bên trái của chiếc áo mưa màu xanh đang mặc trên người rồi điều khiển xe máy đi về huyện Mường Khương. Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24Y1-076.61 về đến khu vực thôn Sín Chải, xã T, huyện Mường Khương thì bị tổ công tác của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Khương phát hiện có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu Nguyễn Văn M dừng xe để kiểm tra thì Nguyễn Văn M khai nhận trên người có ma tuý vừa mua ở thành phố Lào Cai về để sử dụng. Tổ công tác đã đưa Nguyễn Văn M đến trụ sở Uỷ ban nhân dân xã T để làm việc, có sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương và người chứng kiến, Nguyễn Văn M tự nguyện lấy từ trong túi áo phía trước, bên trái của chiếc áo mưa màu xanh đang mặc trên người ra 01 gói nilon màu trắng, mở ra bên trong có 04 gói nhỏ giấy bạc, bên trong mỗi gói giấy bạc đều chứa chất bột khô vón cục màu trắng, M khai là ma tuý Heroine do M mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn M về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý và thu giữ toàn bộ số ma túy có liên quan. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Nguyễn Văn M: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ biển kiểm soát 24Y1-076.61; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị N; 01 giấy bán xe giữa Nguyễn Ngọc D và Nguyễn Văn M ngày 07/3/2023; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13 màu tím than đã qua sử dụng bên trong có lắp sim số thuê bao xxxxxxxxxx; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A50 màu tím than đã qua sử dụng bên trong có lắp sim số thuê bao xxxxxxxxxx; 01 áo mưa màu xanh có mũ; 01 ví giả da màu đen; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn M và số tiền 158.000 đồng.
Kết luận giám định về ma túy số 155/KL-GĐMT ngày 15/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 1,066 gam chất bột khô màu trắng, vón cục đều là loại chất ma tuý heroine (heroin).
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương truy tố Nguyễn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn M về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù giam, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đề nghị áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy đối với: 0,964 gam ma tuý heroine còn lại sau trích mẫu giám định; 01 áo mưa màu xanh có mũ, loại áo mặc kéo séc, trước ngực trái có biểu tượng và chữ ‘‘RANDO simce 1987’’, phía trước (dưới ngực áo) hai bên có túi vuông kích Tớc (17x20)cm, nắp đậy túi bên trái có chữ ‘‘RANDO’’ màu đỏ đã cũ.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13 màu tím than, đã cũ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 24Y1-076.61, đã qua sử dụng; 01 Chứng nhận đăng ký xe máy số 007823 mang tên Nguyễn Thị N; 01 Giấy bán xe giữa Nguyễn Ngọc D và Nguyễn Văn M ngày 07/3/2023;
+ Tạm giữ số tiền 158.000đ của bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội N nội dung bản cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Long Kim V có đơn xin vắng mặt tại phiên toà và đề nghị Toà án xem xét trả lại cho bà chiếc xe mô tô mà cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo.
Người chứng kiến là anh Giàng Seo L vắng mặt tại phiên toà, tuy nhiên các lời khai có trong hồ sơ của anh Lùng đều phù hợp với diễn biến, sự việc mà anh chứng kiến khi tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ vật chứng của Nguyễn Văn M N nội dung bản cáo trạng và lời khai của bị cáo M.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ , ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người chứng kiến và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định N sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người chứng kiến tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
Ngày 09/4/2024, bị cáo Nguyễn Văn M có hành vi tàng trữ 1,066 gam ma tuý Heroine cất giấu trong túi áo phía trước, bên trái của chiếc áo mưa màu xanh đang mặc trên người với mục đích để sử dụng cho bản thân, đã bị cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mường Khương phát hiện bắt quả tang tại khu vực đường Quốc lộ 4D thuộc địa phận thôn S, xã T, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. N vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1.“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Mường Khương. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn P được Chủ tịch nước tặng Tởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba. Do vậy cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử về tội Cưỡng đoạt tài sản và hai lần về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích. Sau khi đi chấp hành án về bị cáo Tờng xuyên sử dụng chất ma tuý.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử bị cáo Nguyễn Văn M mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù bị cáo có nhân thân xấu, lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm Nng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn M đều thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, bố đẻ của bị cáo được nhà nước tặng Tởng tặng Tởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba, và khối lượng ma tuý mà bị cáo tàng trữ là 1,066 gam. Do vậy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là nặng, cần xét xử bị cáo mức án nhẹ hơn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng N các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên toà, bị cáo là lao động tự do, không có việc làm ổn định, không có tài sản và thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,964 gam ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu giám định được tái niêm phong vào túi niêm phong đựng mẫu trong 01 phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai; 01 áo mưa màu xanh có mũ, loại áo mặc kéo séc, trước ngực trái có biểu tượng và chữ ‘‘RANDO since 1987’’, phía trước (dưới ngực áo) hai bên có túi vuông kích Tớc (17x20)cm, nắp đậy túi bên trái có chữ ‘‘RANDO’’ màu đỏ đã cũ. Xét thấy đây là vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định là ma túy Heroine thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu tím than đã cũ số Imei 1: 352469857680251, số Imei 2: 357132377680251, lắp 01 sim có số thuê bao xxxxxxxxxx. Đây là chiếc điện thoại bị cáo dùng để liên lạc với người bán ma tuý để hỏi mua ma tuý về sử dụng, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 24Y1-076.61, đã qua sử dụng; 01 Chứng nhận đăng ký xe máy số 007823 mang tên Nguyễn Thị N; 01 Giấy bán xe giữa Nguyễn Ngọc D và Nguyễn Văn M ngày 07/3/2023, quá trình điều tra và tại phiên toà có căn cứ xác định đây là tài sản riêng của bà Long Kim V là mẹ đẻ của bị cáo, do bà V tuổi cao, sức khoẻ yếu nên sau khi Nguyễn Văn M chấp hành án tù về tháng 01 năm 2023, đến tháng 3 năm 2023 bà V đã đưa cho bị cáo M số tiền 13.000.000 đồng để nhờ M đi mua một chiếc xe mô tô cũ về để làm phương tiện đi lại trong gia đình. Khi bị cáo M sử dụng chiếc xe này đi ra thành phố Lào Cai mua ma tuý về sử dụng bà V không biết. Bị cáo Nguyễn Văn M cũng thừa nhận về nguồn gốc số tiền mua xe mô tô này là của bà Long Kim V và đây là tài sản của bà Long Kim V vì bị cáo mới đi chấp hành án về địa phương, chưa có việc làm và thu nhập nên không có tiền để mua xe, khi bị cáo sử dụng xe đi mua ma tuý cũng không nói cho bà V biết. Bà V đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bà chiếc xe này để làm phương tiện đi lại trong gia đình, cần xem xét trả lại cho bà Long Kim V chiếc xe mô tô, Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy bán xe là phù hợp.
- Đối với số tiền 158.000đ thu giữ của bị cáo, xét thấy đây là tài sản riêng của bị cáo do lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm do vậy cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50 màu tím than, đã cũ, có số Imei (khe 1): 356646104629225 ; số Imei (khe 2) : 356647104629223 lắp 01 sim có số thuê bao xxxxxxxxxx; 01 ví giả da màu đen ;01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn M là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, ngày 29/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Khương đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M là phù hợp.
Về các vấn đề có liên quan đến vụ án:
Đối với đối tượng nam giới và nữ giới mà bị cáo khai là người đã bán ma tuý cho bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên toà không làm rõ được lai lịch, địa chỉ của các đối tượng này nên không có cơ sở để xử lý.
Liên quan đến số thuê bao xxxxxxxxxx mà bị cáo Nguyễn Văn M khai đã gọi điện để liên hệ mua ma tuý về sử dụng, quá trình điều tra xác định số thuê bao trên được đăng ký mang tên Trương Thị H sinh ngày 12/02/1990, địa chỉ tại Xóm 4, xã H, huyện H, tỉnh N. Tuy nhiên quá trình điều tra, xác minh, lấy lời khai của chị H thì chị H cho biết thuê bao trên không phải của chị H, chị không đăng ký sử dụng thuê bao trên với Mobiphone, bản thân chị cũng không biết ai đang sử dụng số thuê bao này. Xét thấy ngoài lời khai của bị cáo M thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có đủ căn cứ để điều tra, làm rõ.
. Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (Một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/4/2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 0,964 gam ma tuý Heroine được tái niêm phong vào túi nilon đựng mẫu cho vào 01 (một) phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Mặt trước của phong bì ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn M ngày 09/4/2024 tại thôn Sín Chải, xã T, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai”, mặt sau phong bì được đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và có chữ ký của Trương Tuấn A, Nguyễn Văn M, Nguyễn Anh T.
+ 01 áo mưa màu xanh có mũ, loại áo mặc kéo séc, trước ngực trái có biểu tượng và chữ ‘‘RANDO since 1987’’, phía trước (dưới ngực áo) hai bên có túi vuông kích Tớc (17x20)cm, nắp đậy túi bên trái có chữ ‘‘RANDO’’ màu đỏ đã cũ.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu tím than đã cũ số Imei 1: 352469857680251, số Imei 2: 357132377680251, lắp 01 sim có số thuê bao xxxxxxxxxx.
- Trả lại cho bà Long Kim V: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 24Y1- 076.61, đã qua sử dụng; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe máy số 007823 mang tên Nguyễn Thị N; 01 (một) Giấy bán xe giữa Nguyễn Ngọc D và Nguyễn Văn M ngày 07/3/2023;
(Xác nhận vật chứng trên, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Khương đã chuyển giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Khương theo nội dung biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/6/2024).
- Tạm giữ số tiền 158.000đ đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn M để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm.
(Xác nhận số tiền trên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Khương đã chuyển giao sang Kho bạc Nhà nước huyện Mường Khương theo nội dung biên bản giao, nhận tài sản ngày 23/4/2024).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Mường Khương; - Công an huyện Mường Khương (2); - CQTHAHS Công an tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp; - Bị cáo; NLQ; - Thi hành án (3); - Lưu HS, THS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Hiền Lương |