- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lợi - Hoàng"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị L, cho chị Trương Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản số: 07 /2024/HNGĐ - ST Ngày: 27/3/2024 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
2. Bà Dương Thị Hạnh.
Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên: Ông Hoàng Văn Thùy, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 108/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị L, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Xóm V, xã BL, huyện VN, tỉnh TN.
(Có mặt tại phiên toà).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Xóm V, xã BL, huyện VN, tỉnh TN.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn, tại bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn chị Trương Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn với nhau năm 2017 tại UBND xã BL, huyện VN, tỉnh TN.. Quá trình chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Thảo V, sinh ngày 24/7/2018. Về tài sản chung và khoản nợ chung không có. Về nguyên nhân ly hôn: Do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay chị Trương Thị L thấy không còn tình cảm với anh Nguyễn Văn H nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Trương Thị L xác định việc duy trì tình cảm vợ chồng không đem lại hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn H để giải phóng cho nhau, mỗi người tự tạo dựng cuộc sống riêng cho mình. Về con chung: Chị có nguyện vọng được nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Trương Thị L nhận nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các giấy tờ cho anh Nguyễn Văn H nhưng anh H không có mặt tại tòa án, nên không có bản tự khai và Tòa án không tiến hành lập hòa giải được. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.
Kết thúc phần hỏi vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Đối với Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án như: Thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình, lập hồ sơ và chấp hành về thời gian chuẩn bị xét xử; thời hạn tiến hành phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn: Chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn: Không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; 56; 57,Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị L, cho chị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thảo V, sinh ngày 24/7/2018 cho chị Trương Thị L nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền đi lại thăm con chung; Về tài sản chung và khoản nợ chung không có không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết; Về án phí chị L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt anh Nguyễn Văn H nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung: Chị Trương Thị L và anh Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau năm 2017 tại UBND xã Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc nên được pháp luật thừa nhận là cuộc hôn nhân hợp pháp. Về nguyên nhân xin ly hôn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay chị Trương Thị L thấy không còn tình cảm với anh Nguyễn Văn H nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh H. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được vì vậy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L là phù hợp với thực tế và quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Về con chung: Xét yêu cầu của chị Trương Thị L có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thảo V, sinh ngày 24/7/2018, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị L, giao con chung là cháu Nguyễn Thảo V, sinh ngày 24/7/2018 cho chị Trương Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu V đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp với thực tế và Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị Trương Thị L không yêu cầu anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị L phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 273,Điều 482 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/ 2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị L, cho chị Trương Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao cho chị Trương Thị L có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Thảo V, sinh ngày 24/7/2018 cho đến khi cháu Nguyễn Thảo V đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
- Về cấp dƣỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vì chị L không yêu cầu.
- Về quyền đi lại thăm con chung: Anh Nguyễn Văn H có quyền đi lại thăm con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vì chị L không yêu cầu.
4. Về Án phí: Chị Trương Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006485 ngày 26/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Võ Nhai; - Chi cục THADS huyện Võ Nhai; - TAND tỉnh TN; - Đương sự; - UBND xã; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Huyền |