- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị D "ly hôn" Trần Ngọc Vũ B"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Mai Thị D đối với anh Trần Ngọc Vũ B. Chị Mai Thị D được ly hôn với anh Trần Ngọc Vũ B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST. Ngày 25-3-2024. V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Như Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Văn Trường;
Bà Lê Thị Diễm .
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Sự - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thướng – Kiểm sát viên. Trong ngày 25 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 328/2023/HNGĐ-ST ngày 26-10-2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Mai Thị D, sinh năm 1993. Nơi ĐKHKTT: Khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Tạm trú: Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh- có mặt.
Bị đơn: Anh Trần Ngọc Vũ B, sinh năm 1988; địa chỉ: Khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Mai Thị D trình bày thể hiện trong hồ sơ:
Chị và anh B chung sống với nhau từ năm 2021, không có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A vào ngày 18-01-2021. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng mẹ chồng tại khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 01-2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn, cãi vã nhau gây mất hạnh phúc vợ chồng. Vợ chồng ly thân nhau từ đầu năm 2023 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không có nói chuyện hòa giải. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh B.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 19-01-2021, hiện nay cháu đang sống cùng chị; sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Trần Ngọc Vũ B đã được Tòa án: Tống đạt thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh B đều cố tình vắng mặt không có lý do và không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
2. Việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mai Thị D đối với anh Trần Ngọc Vũ B.
- Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 19-01-2021 cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị D vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh B vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị D, anh B là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về hôn nhân: Chị D và anh B chung sống từ năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A vào ngày 18-01-2021. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng mẹ anh B tại khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Đến đầu năm 2023 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau gây mất hạnh phúc gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh B đến làm việc nhưng anh đều vắng mặt không lý do, không cung cấp lời khai, không tham gia phiên hòa giải thể hiện anh B không có thiện chí đoàn tụ. Từ đây cho thấy mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị D yêu cầu ly hôn với anh B, nhận thấy có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Cháu Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 19-01-2021, hiện nay cháu Bảo A đang sống cùng chị D. Xét thấy, cháu Bảo A là bé gái, hiện còn nhỏ cần có sự quan tâm, chăm sóc của mẹ và chị D cũng có yêu cầu được nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy nên giao chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Bảo A là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không yêu cầu.
Về tài sản, nợ chung: Chị D, anh B không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Mai Thị D đối với anh Trần Ngọc Vũ B. Chị Mai Thị D được ly hôn với anh Trần Ngọc Vũ B.
2. Về con chung:
- Giao cháu Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 19-01-2021 cho chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không yêu cầu.
- Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị C đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027649 ngày 17-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng.(Chị D đã nộp đủ án phí).
5. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - UBND phường An Hòa; - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hà Như Thủy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |