vanban.org

Bản án 07/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc H đối với ông Lê Ngọc D. Cụ thể tuyên:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Lê Ngọc D. Ghi nhận bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn. Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: bà Nguyễn Thị Ngọc H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc một người con chung của bà và ông Lê Ngọc D tên Lê Ngọc T, sinh ngày 20/7/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn T. Ngọc H yêu cầu ly hôn với Lê Ngọc D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc H đối với ông Lê Ngọc D. Cụ thể tuyên:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BT
Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05-01-2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL, TỈNH BT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim H.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Nh.

Bà Bùi Thị Thúy B.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, tỉnh BT tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Th - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 290/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H - sinh năm 1996; địa chỉ: ấp TTr, xã TTT, huyện VL, tỉnh VL. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Ông Lê Ngọc D - sinh năm 1986; địa chỉ: ấp PC, xã SĐ, huyện CL, tỉnh BT. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản khai ý kiến, văn bản trình bày ý kiến, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: vào năm 2017 bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Lê Ngọc D tìm hiểu và trước sự chứng kiến của gia đình, hai bên tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Sơn Định ngày 03/7/2017. Sau khi cưới, bà H về chung sống cùng gia đình chồng. Cuộc sống chung ban đầu được hạnh phúc nhưng sau đó thì vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẩn, thường xuyên cự cãi, gây gỗ, chồng bà đi làm nhưng không phụ lo cho con, cuộc sống vợ chồng ngày càng trầm trọng dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà H về nhà cha mẹ ruột tại ấp Tân Trung, xã Trung Thành Tây, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long để sinh sống từ tháng 01/2019 đến nay. Kể từ đó, vợ chồng mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể nào chung sống với nhau được nữa nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Ngọc D và không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: gồm có 01 người con chung tên Lê Ngọc T, sinh ngày 20/7/2017, hiện đang sống chung với bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn ông Lê Ngọc D vắng mặt và không có ý kiến trình bày gì.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật HNGĐ 2014: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn đối với ông Lê Ngọc D. Ghi nhận bà H không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: giao cháu Lê Ngọc T, sinh ngày 20/7/2017 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ghi nhận bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được Tòa án xem xét giải quyết và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện CL theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt, còn bị đơn thì mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Ngọc H tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã SĐ ngày 03/7/2017 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà H trình bày, cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông D ban đầu hạnh phúc, đến năm 2019 thì cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tình cảm không còn, thường hay gây cãi, đã nhiều lần trao đổi và được gia đình hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không được. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay, cuộc sống mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Còn ông D mặc dù Tòa án đã nhiều lần mời đến Tòa tham dự phiên hòa giải để tạo điều kiện động viên cho ông bà hòa giải hàn gắn, xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, cùng nhau lo cho con nhưng ông D vẫn cố tình vắng mặt suốt trong quá trình hòa giải cho đến khi xét xử vụ án và không có ý kiến gì.

Hội đồng xét xử nhận thấy, bà H và ông D đã sống ly thân một khoảng thời gian dài, bản thân bà H cương quyết ly hôn, còn ông D không có ý kiến hay mong muốn hàn gắn gia đình. Điều đó chứng tỏ, cuộc sống hôn nhân giữa ông bà đã mâu thuẩn trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể nào chung sống với nhau được nữa. Do đó, HĐXX nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông D là phù hợp theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà H không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên ghi nhận.

[3.2] Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống, bà H và ông D có một người con chung tên Lê Ngọc T, sinh ngày 20/7/2017, hiện tại cháu T đang sống chung với bà H. Nhận thấy, bé T từ nhỏ đã được bà H nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, có đủ khả năng để nuôi dưỡng con, còn ông D thì không có ý kiến tranh chấp hay yêu cầu gì về con chung. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặc của con, HĐXX nhận thấy cần giao bé T cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng sẽ đảm bảo không xáo trộn cuộc sống của bé và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ghi nhận bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con cho cháu T.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom con mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung, bà H và ông D có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức và phương thức cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, trên cơ sở lợi ích của con thì người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3.3] Về tài sản và nợ chung: bà H khai không có tài sản và nợ chung và không có ai yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL là phù hợp nên ghi nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bà Hân phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 267, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc H đối với ông Lê Ngọc D. Cụ thể tuyên:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Lê Ngọc D. Ghi nhận bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

2. Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: bà Nguyễn Thị Ngọc H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc một người con chung của bà và ông Lê Ngọc D tên Lê Ngọc T, sinh ngày 20/7/2017, hiện tại cháu T đang sống với bà H. Ghi nhận bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con cho cháu T.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom con mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung, bà H và ông D có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức và phương thức cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, trên cơ sở lợi ích của con thì người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản và nợ chung: bà H khai không có tài sản và nợ chung và không có ai yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí:

Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007747 ngày 29/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL, tỉnh BT là đủ.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ