vanban.org

Bản án 07/2023/TCDS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 01/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Hoàng T và bà Hoàng Thị H.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C: Buộc ông Hoàng T và bà Hoàng Thị H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (26/4/2023) là 547.895.626 (Năm trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm hai … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng ACB "Tranh chấp hợp đồng tín dụng""
  • Tòa quyết gì? Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Hoàng T và bà Hoàng Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/TCDS-ST
Ngày: 26 - 4 - 2023
“V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Xuân Vinh

2. Ông Hoàng Công Nghĩa

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Sơn - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2022/TLST-TCDS ngày 31/5/2022 về việc“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2022/QĐXXST-TCDS ngày 29/11/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á C

Địa chỉ: Số 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P – Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Anh Đ – Giám đốc phòng quản lý nợ.

Người được ủy quyền lại: bà Nguyễn Ngọc T – Nhân viên ngân hàng

Địa chỉ: Số 257 Trần Hưng Đ, phường Nam L, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

2. Bị đơn: Ông Hoàng T và bà Hoàng Thị H

Địa chỉ: Thôn Văn P, xã Quảng V, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình. Đều vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung của Đơn khởi kiện đề ngày 20/4/2021, Bản tự khai, quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, đại diện cho nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng ACB) và ông Hoàng Trường bà Hoàng Thị Hà đã ký kết Hợp đồng tín dụng số BDN.CN.2970.130121 ngày 14/01/2021. Số tiền cho vay là 250.000.000 đồng; Mục đích cho vay tiêu dùng có tài sản bảo đảm, mua sắm thiết bị, vật dụng sinh hoạt trong gia đình; Phương thức cho vay từng lần; Thời hạn giải ngân 06 tháng kể từ ngày cấp tín dụng 14/01/2021; thời hạn vay là 84 tháng kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay lần đầu; lãi suất trong hạn được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể; lãi suất quá hạn 150%; lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm. Ngày 15/01/2021 Ngân hàng ACB đã giải ngân theo khế ước nhận nợ số 01, số tiền giải ngân là 240.000.000 đồng, chuyển số tiền giải ngân vào tài khoản thanh toán số 17010287 của ông Hoàng Trường tại Ngân hàng ACB, thời hạn từ ngày 16/01/2021 đến ngày 15/01/2028; lãi suất trong hạn 10%/năm, cố định trong 24 tháng đầu tiên, sau đó điều chỉnh 03 tháng lần theo công thức, lãi suất 13+4,0%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi là 10%/năm.

Ngân hàng ACB và ông Hoàng Trường bà Hoàng Thị Hà đã ký kết tiếp Hợp đồng tín dụng số BDN.CN.2960.130121 ngày 14/01/2021. Số tiền cho vay là 280.000.000 đồng; Mục đích cho vay xây dựng, sữa chữa nhà, xây nhà, cấp mới, bổ sung một phần tiền mua nguyên vật liệu hoàn thiện nhà; Phương thức cho vay từng lần;Thời hạn giải ngân 12 tháng kể từ ngày cấp tín dụng 14/01/2021; thời hạn vay là 120 tháng kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay lần đầu; lãi suất trong hạn được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể; lãi suất quá hạn 150%; lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm. Ngày 15/01/2021 Ngân hàng ACB đã giải ngân theo khế ước nhận nợ số 01, số tiền giải ngân là 280.000.000 đồng, chuyển số tiền giải ngân vào tài khoản thanh toán số 17010287 của ông Hoàng Trường tại Ngân hàng ACB, thời hạn từ ngày 16/01/2021 đến ngày 15/01/2031; lãi suất trong hạn 9,5%/năm, cố định trong 24 tháng đầu tiên, sau đóđiều chỉnh 03 tháng lần theo công thức, lãi suất 13+3,5%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi là 10%/năm.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Hoàng Trường bà Hoàng Thị Hà đã ký với Ngân hàng ACB Hợp đồng thế tài sản số BDN.BĐCN.343.130121 ngày 14/01/2021. Hợp đồng được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Ba Đồn theo quy định. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 556, tờ bản đồ số 8 tại thôn Văn Phú, xã Quảng Văn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, có diện tích 126,3 m2 theo GCNQSDĐ số CH00049 do UBND huyện Quảng Trạch (Nay là thị xã Ba Đồn) cấp ngày 28/12/2012 mang tên ông Hoàng Trường và bà Hoàng Thị Hà và tài sản gắn liền với thửa đất nói trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trường và bà Hà không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/12/2021, mới chỉ thanh toán được 57.112.000 đồng tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng ACB. Hiện ông Trường, bà Hà còn nợ Ngân hàng ACB số tiền gốc là 462.888.000 đồng, tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày 26/4/2023 là 85.007.626 đồng (Trong đó, lãi trong hạn là 16.756.391 đồng, lãi quá hạn là 68.251.235 đồng). Vì vậy, Ngân hàng ACB khởi kiện đến Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn yêu cầu buộc ông Trường bà Hà phải thanh toán cho Ngân hàng ACB toàn bộ số tiền nợ gốc nói trên và số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp ông Trường bà Hà không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng ACB có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ số nợ cho ngân hàng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thủ tục pháp luật quy định. Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng ông Hoàng Trường và bà Hoàng Thị Hà vẫn không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến, do đó Tòa án không ghi lời khai và không tiến hành phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải được.

Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hoàng Trường và bà Hoàng Thị Hà phải trả nợ cho Ngân hàng ACB tính đén ngày xét xử sơ thẩm 26/4/2023 số tiền là 547.895.626 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 462.888.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 16.756.391 đồng; Nợ lãi quá hạn là 68.251.235 đồng.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn phát biểu ý kiến, quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện và chấp hành quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nhưng Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, việc vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 342, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Hoàng Trường và bà Hoàng Thị Hà phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng ACB tính đến ngày xét xử sơ thẩm (26/4/2023) với tổng số tiền: 547.895.626 đồng (Trong đó số tiền nợ gốc là 462.888.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 16.756.391 đồng; lãi quá hạn: 68.251.235 đồng). Trong trường hợp ông Trường bà Hà không trả được nợ thì đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng ACB theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

- Về xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án: Ông Hoàng T và bà Hoàng Thị H ký kết 02 Hợp đồng tín dụng số BDN.CN.2970.130121 ngày 14/01/2021 và số BDN.CN.2960.130121 ngày 14/01/2021 với Ngân hàng ACB là hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 398 Bộ luật Dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trường bà Hà đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp trên là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trường bà Hà cư trú tại thôn Văn Phú, xã Quảng Văn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

- Về sự vắng mặt của bị đơn: Qua biên bản xác minh Công an xã Quảng Văn và Uỷ ban nhân dân xã Quảng Văn cho biết ông Trường bà Hà hiện đang sinh sống tại thôn Văn Phú, xã Quảng Văn, thị xã Ba Đồn cho đến nay. Các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã được cán bộ liên lạc Uỷ ban xã Quảng Văn tống đạt tại nhà và thông báo qua điện thoại cho ông Trường bà Hà nhưng ông bà không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Điều đó chứng tỏ các văn bản tố tụng của Tòa án đã được tống đạt hợp lệ nhưng ông Trường bà Hà không chấp hành. Do vậy, Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn ông Trường bà Hà.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng ACB vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông Hoàng Trường bà Hoàng Thị Hà có nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết giữa ông Trường bà Hà và Ngân hàng ACB, nếu ông Trường bà Hà không trả nợ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng ACB theo hợp đồng thế chấp tài sản. Căn cứ theo yêu cầu của nguyên đơn và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Theo Hợp đồng tín dụng số BDN.CN.2970.130121 ngày 14/01/2021 và Hợp đồng tín dụng số BDN.CN.2960.130121 ngày 14/01/2021;Hợp đồng thế tài sản số BDN.BĐCN.343.130121 ngày 14/01/2021, ông Trường bà Hà đã thế chấp thửa đất số 556, tờ bản đồ số 8 tại thôn Văn Phú, xã Quảng Văn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, có diện tích 126,3 m2 theo GCNQSDĐ số CH00049 do UBND huyện Quảng Trạch (Nay là thị xã Ba Đồn) cấp ngày 28/12/2012 mang tên ông Hoàng Trường và bà Hoàng Thị Hà và tài sản gắn liền với thửa đất nói trên để đảm bảo cho khoản vay được ký kết giữa các bên là Ngân hàng ACB với ông Trường bà Hà về hình thức và nội dung đều tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 116, 117, 317, 319, 335, 336, 398, 401, 463, 468 Bộ luật Dân sự nên các hợp đồng này đều có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng.Theo đó, Ngân hàng ACB đã giải ngân cho ông Trường bà Hà vay tổng số tiền 520.000.000 đồng qua hai khế ước nhận nợ ngày 15/01/2023 (Lần 01 240.000.000 đồng, lần hai 280.000.000 đồng). Ông Trường bà Hà chỉ mới trả tiền nợ gốc, lãi được 57.112.000 đồng rồi không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/12/2021. Từ đó đến nay, ông Trường bà Hà không thanh toán thêm được cho Ngân hàng ACB khoản tiền nào. Số tiền Ngân hàng ACB yêu cầu ông Trường bà Hà thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm (26/4/2023) là 547.895.626 đồng, trong đó có 462.888.000 đồng nợ gốc, 16.756.391 đồng lãi trong hạn, 68.251.235 đồng nợ lãi quá hạn là phù hợp với thoả thuận đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng. Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó” nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Trường bà Hà vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đại diện nguyên đơn cho thấy, việc ký hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng ACB với bị đơn là hoàn toàn có thật và bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền vay theo thỏa thuận. Do đó yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với các quy định tại khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và các Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự nên cần được chấp nhận.

Xét yêu cầu đối với tài sản thế chấp: Theo Hợp đồng thế tài sản số BDN.BĐCN.343.130121 ngày 14/01/2021. Hợp đồng được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Ba Đồn theo quy định. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 556, tờ bản đồ số 8 tại thôn Văn Phú, xã Quảng Văn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, có diện tích 126,3 m2 theo GCNQSDĐ số CH00049 do UBND huyện Quảng Trạch (Nay là thị xã Ba Đồn) cấp ngày 28/12/2012 mang tên ông Hoàng Trường và bà Hoàng Thị Hà và tài sản gắn liền với thửa đất nói trên. Ngân hàng ACB yêu cầu Tòa án tuyên quyền xử lý tài sản thế chấp là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự nên cần được chấp nhận. Trường hợp ông Trường bà Hà không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng ACB được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp nói trên để thu hồi toàn bộ số nợ cho Ngân hàng ACB.

Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 1.900.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu đã nộp số tiền trên để chi phí cho việc thẩm định. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên cần căn cứ vào khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166 Bộ luật Tố tụng Dân sự, buộc ông Hoàng Trường và bà Hoàng Thị Hà phải nộp 1.900.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ để trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu là phù hợp.

Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu được chấp nhận nên ông Hoàng Trường và bà Hoàng Thị Hà phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu theo quy định của pháp luật.

Các đườn sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 26, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 116, Điều 117,Điều 299, Điều 317, Điều 319, Điều 398, Điều 401, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Hoàng T và bà Hoàng Thị H.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C: Buộc ông Hoàng T và bà Hoàng Thị H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (26/4/2023) là 547.895.626 (Năm trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng).

Trong đó nợ gốc là 462.888.000 (Bốn trăm sáu mươi hai triệu tám trăm tám mươi tám nghìn), nợ lãi trong hạn: 16.756.391 đồng (Mười sáu triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng); lãi quá hạn: 68.251.235 đồng (Sáu mươi tám triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi lăm đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (26/4/2023), hàng tháng bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp ông Hoàng T và bà Hoàng Thị H không trả được toàn bộ số nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với với thửa đất số 556, tờ bản đồ số 8 tại thôn Văn Phú, xã Quảng Văn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, có diện tích 126,3 m2 theo GCNQSDĐ số CH00049 do UBND huyện Quảng Trạch (Nay là thị xã Ba Đồn) cấp ngày 28/12/2012 mang tên ông Hoàng Trường và bà Hoàng Thị H và tài sản gắn liền với thửa đất nói trên để thu hồi toàn bộ số nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C.

3. Về chi phí tố tụng: Ông Hoàng T và bà Hoàng Thị H phải nộp 1.900.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ để trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu.

4.Về án phí:

- Buộc ông Hoàng T và bà Hoàng Thị H phải nộp 25.915.825 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm mười lăm nghìn tám trăm hai mươi lăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

- Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C số tiền tạm ứng án phí 11.557.598 đồng (Mười một triệu năm trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm chín mươi tám đồng) mà Ngân hàng Thương mại cổ phầnÁ C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003373 ngày 30/5/2022.

“ Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”

5. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Ông Hoàng Trường và bà Hoàng Thị Hà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường nơi ông bà thường trú./.

Cỡ chữ