vanban.org

Bản án 07/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 09/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 điều 52; điều 38; 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Trần Danh A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Trần Danh A 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Danh A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 điều 52; điều 38; 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07 /2023/HSST
Ngày: 09 / 02 / 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Hoài Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và bà Ngô Thị Như Hoa

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông

Đinh Việt Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét

xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2023/HSST ngày 11 tháng 01 năm

2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01

năm 2023 đối với:

Bị cáo Trần Danh A; giới tính: Nam; sinh năm 1989 tại Thái Bình; nơi đăng

ký HKTT và chỗ ở: Xóm 8, thôn N, xã Đ, huyện Đ, Thái Bình; trình độ văn hoá:

12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt

Nam; con ông Trần Danh H và bà Đoàn Thị Th; có vợ là Trần Thị Nho Ngân; có 02

con (lớn 10 tuổi, nhỏ 08 tuổi).

Có 01 tiền án: Ngày 25/12/2019, bị TAND Tp Thái Bình xử phạt 12 tháng tù về

tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 04/10/2022 đến nay tại Trại tạm giam - Công an

tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 04/10/2022, Trần Danh A điều khiển xe mô-tô biển kiểm

soát 19Z6-0639 đi từ xã Bảo Yên, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ đến thành phố Hòa

Bình để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực cổng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình, A hỏi một người đàn ông và được giới thiệu chỗ bán ma túy. Sau đó A đi đến khu vực đầu cầu Hòa Bình 1 thuộc tổ 01, phường Đồng Tiến rồi vào một quán điện thoại và mua được 01 gói ma túy với số tiền 200.000 đồng của một người phụ nữ không quen biết. Mua được ma túy, A cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khi A đi đến khu vực đầu cầu Hòa Bình 2 thuộc tổ 03, phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố Hòa Bình kiểm tra, bắt quả tang hành vi tàng trữ ma túy của A. Khi bị bắt, do lo sợ nên A đã thả gói ma túy vừa mua xuống nền đường nhưng đã bị phát hiện, thu giữ.

Bản Kết luận giám định số 278/KL-KTHS ngày 12/10/2022 của Phòng Kỹ

thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: "Chất bột dạng cục màu trắng, hồng trong phong bì niêm phong ... gửi giám định có khối lượng 0,17gam, là ma túy, loại heroine và methamphetamine".

Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 11/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành

phố Hoà Bình truy tố Trần Danh A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng

xét xử áp dụng điểm i khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật TTHS, xử phạt Trần Danh A từ 15 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; chiếc xe mô tô bị cáo sử dụng đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa hay tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện

kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi mà bị cáo đã thực hiện:

Tại phiên toà, Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai

của Bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có đủ cơ sở xác định: khoảng

12 giờ 50 phút ngày 04/10/2022, Trần Danh A bị bắt quả tang có hành vi mua và cất

giấu trái phép 0,17g ma túy nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền

quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an trên địa bàn, là nguyên

nhân của nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc

mua và cất giữ bất hợp pháp ma túy để sử dụng cho bản thân bị pháp luật nghiêm cấm

nhưng do coi thường pháp luật, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của

bản thân nên vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi của bị cáo thỏa mãn dấu hiệu của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và

cần xét xử theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân người phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; đã có thời gian phục vụ trong Quân đội

nhân dân Việt Nam; gia đình bị cáo có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự

được áp dụng khi quyết định hình phạt.

Bị cáo đã có 01 tiền án, chưa được xóa án tích do đó lần phạm tội này thuộc

trường hợp “tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h

khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình.

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần có mức

hình phạt tù thỏa đáng, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải

tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô bị cáo sử dụng đi mua ma túy là tài sản của chị Nguyễn

Thị Bích Hợp, cơ quan điều tra đã xác minh và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp do đó

Tòa không đề cập giải quyết.

Đối với những người bị cáo khai giới thiệu địa điểm và bán ma túy cho bị cáo,

cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa đủ cơ sở kết luận và không truy cứu trách

nhiệm nên Tòa không giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản

1 điều 52; điều 38; 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Tuyên bố: Trần Danh A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Xử phạt: Trần Danh A 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

04/10/2022.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,12g mẫu ma túy, loại heroine và methamphetamine, cùng

toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa

Bình, có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng số 33/BB ngày 06/02/2023)

4. Về án phí: Trần Danh A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ