- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Hoàng Minh Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội mua…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Hoàng Minh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Đối; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HSST Ngày: 16/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Văn Phương
2. Ông Lã Văn Luật
Thư ký phiên tòa: Bà Bàng Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: ông Hoàng H Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2022/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Minh Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12/7/1982 tại thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: tổ 09, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Hoàng Trung Đ - sinh năm 1956 (Đã chết); Con bà: Phan Thị H - sinh năm 1957 (Đều trú tại: tổ 09, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Anh, chị, em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Hoàng Thị C - sinh năm 1982 (Trú tại: tổ 09, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Con: Có 01 con sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 12/7/2002: Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng đưa vào Cơ sở giáo dục 24 tháng;
- Ngày 21/11/2007: Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng) xử phạt 09 tháng tù về tội cố ý làm hư hỏng tài sản;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 16/8/2022 đến nay; Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 18/10/1973 tại thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: tổ 10, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông: Bế Hồng N - sinh năm 1954 (Trú tại: Thị trấn X, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng); Con bà: Nguyễn Thị T - sinh năm 1956 (Trú tại: tổ 10, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Anh, chị, em ruột: Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Đinh Thị T - sinh năm 1980 (Trú tại: tổ 10, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Con: Có 01 con sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 19/4/2017 bị Công an thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 16/8/2022 đến nay; Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hoàng Thị C – sinh năm 1982; Trú tại: Tổ 9, phường Đ, thành phố Cao Bằng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 15/8/2022, Hoàng Minh Đ (Sinh ngày 12/7/1982; trú tại: tổ 09, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) một mình đi bộ từ nhà thuộc tổ 09, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đến khu vực Bến xe khách thành phố Cao Bằng thuộc tổ 10, phường Đ, thành phố Cao Bằng để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Tại đây, Đ gặp một người đàn ông khoảng hơn 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) giống người nghiện nên hỏi mua Heroine. Đ đưa cho người đàn ông đó 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), người đàn ông nhận tiền rồi đi khoảng 05 phút sau quay lại đưa cho Đ 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa Heroine. Đ mang gói Heroine vừa mua được về nhà tách một ít sử dụng cho bản thân, phần còn lại Đ gói bằng giấy bạc màu vàng giấu trong người. Khoảng 10h35’ ngày 16/8/2022, Nguyễn Văn H (Sinh ngày 18/10/1973; trú tại: tổ 10, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) gọi điện thoại cho Đ hỏi mua 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) ma túy. Đ nhất trí và hẹn mang đến nhà cho H. Khoảng 11 giờ 30p cùng ngày, Đ mang theo gói Heroine và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đỏ, biển kiểm soát 11B1 – 096.49 đến nhà H. Khi đến nơi, quan sát thấy H đang đứng ở tường rào phía trong sân, Đ điều khiển xe mô tô đến sát tường rào đưa gói Heroine cho H. H nhận gói Heroine cất vào túi áo bên phải đang mặc rồi đưa cho Đ số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Khi Đ vừa cất tiền của H đưa vào trong túi quần đằng sau bên phải thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố Cao Bằng phát hiện và bắt quả tang đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (Đ và H khai nhận là Heroine) có khối lượng 0,12g (không phẩy mười hai gam) thu giữ trong túi áo bên phải của Nguyễn Văn H đang mặc; Số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) thu giữ trong túi quần đằng sau bên phải Hoàng Minh Đ đang mặc; 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng, màu hồng, mặt sau có chữ OPPO, số IMEI: 865251031171278 của Nguyễn Văn H và 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng, màu xanh, mặt sau có chữ OPPO, số IMEI: 862052051675856 và 01 (một) xe máy nhãn hiệu VISION màu đỏ, biển kiểm soát: 11B1 - 096.49 thu giữ của Hoàng Minh Đ. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản quả tang, niêm phong toàn bộ tang vật theo quy định.
Ngày 17/8/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 203 đối với vật chứng vụ án. Tại bản kết luận giám định số 242/GĐMT ngày 24/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Cao Bằng, kết luận:“ mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine”.
Hành vi trên đây của Hoàng Minh Đ và Nguyễn Văn H đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố.
Tại bản Cáo trạng số 122/CT-VKSTP ngày 22/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo Hoàng Minh Đ về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Minh Đ và Nguyễn Văn H đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và lời khai tại cơ quan điều tra. Các bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ và nội dung bản Kết luận Giám định của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Cao Bằng.
Về vật chứng và tài sản bị thu giữ của vụ án:
Bị cáo Đ khai nhận có sử dụng 01 điện thoại di động màu xanh, mặt sau có chữ OPPO (màn hình cảm ứng) để liên lạc với H trao đổi mua bán ma túy. Chiếc xe máy sử dụng làm phương tiện để đi bán ma túy cho H là của vợ bị cáo bỏ tiền ra mua và đứng tên chủ sở hữu, vợ bị cáo không biết bị cáo bán ma túy, chiếc xe máy đã được trả lại cho chủ sở hữu nên không có ý kiến gì. Đối với số tiền thu giữ là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng). Trong đó có 500.000đ là tiền do bán ma túy cho H có được, số tiền 100.000đ còn lại do bị cáo lao động mà có không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị được trả lại.
Bị cáo H khai có sử dụng 01 điện thoại di động màu hồng, mặt sau có chữ OPPO (màn hình cảm ứng) để liên lạc với Đ để mua ma túy, đây là chiếc điện thoại của bị cáo.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị C cho biết: Ngày 16/8/2022, khi Đ (chồng của bà C) hỏi mượn chiếc xe mô tô C không biết việc Đ mượn để sử dụng đi bán ma túy. Đây là chiếc xe mô tô do bà đứng tên chủ sở hữu và là người bỏ tiền ra mua xe. Bà xác nhận đã nhận lại chiếc xe và không có ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo Hoàng Minh Đ và Nguyễn Văn H. Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đ; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H. Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”. Nguyễn Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Minh Đ từ 25 đến 27 tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn H từ 13 đến 15 tháng tù. Hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 242/KTHS hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Minh Đ và Nguyễn Văn H. Xét thấy đây là đồ vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ 01 điện thoại di động màu hồng, mặt sau có chữ OPPO (màn hình cảm ứng) và 01 điện thoại di động màu xanh, mặt sau có chữ OPPO (màn hình cảm ứng). Xét thấy đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.
- 01 phong bì niêm phong tiền Việt Nam: 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng). Tại phiên tòa, bị cáo Đ khai nhận có số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) có được do bán ma túy cho H mà có, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đây là số tiền do bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Số tiền bị thu giữ còn lại 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Đ, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.
Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Đ được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình. Bị cáo H không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Khoảng 11h45’ ngày 16/8/2022, tại khu vực tổ 10, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Cao Bằng phát hiện và bắt quả tang Hoàng Minh Đ có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn H. Thu giữ trong túi áo bên phải của Nguyễn Văn H đang mặc 01 gói Heroine có khối lượng 0,12g (không phẩy mười hai gam); Thu giữ trong túi quần đằng sau bên phải Hoàng Minh Đ số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng), trong đó có 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) là tiền bán ma túy cho H.
Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và gây ra tâm lý hoang mang lo ngại trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo Đ thực hiện hành vi bán 01 (lần) ma túy cho H 01 gói ma túy nhằm mục đích kiếm lời cho bản thân. Bị cáo H thực hiện hành vi mua ma túy với bị cáo Đ 01 gói Heroine có khối lượng 0,12g nhằm mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Do đó, hành vi của bị cáo Hoàng Minh Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Bị cáo Hoàng Minh Đ không có tiền án, tiền sự nhưng là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu. Ngày 12/7/2002: Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng đưa vào Cơ sở giáo dục 24 tháng; Ngày 21/11/2007: Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng) xử phạt 09 tháng tù về tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Bị cáo Nguyễn Văn H không có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu, nghiện ma túy. Ngày 19/4/2017 bị Công an thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Mặc dù đã được xử lý và răn đe nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi các bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định và áp dụng hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ để cải tạo giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…” . Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 242/KTHS hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Minh Đ và Nguyễn Văn H. Xét thấy đây là đồ vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động màu hồng, mặt sau có chữ OPPO (màn hình cảm ứng) và 01 điện thoại di động màu xanh, mặt sau có chữ OPPO (màn hình cảm ứng). Xét thấy đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.
- 01 phong bì niêm phong tiền Việt Nam: 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng). Tại phiên tòa, bị cáo Đ khai nhận có số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) có được do bán ma túy cho H mà có, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đây là số tiền do bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Số tiền bị thu giữ còn lại 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Đ, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu HONDA VISION màu đỏ, biển kiểm soát 11B1 - 096.49. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là Hoàng Thị C (Sinh năm: 1982; Trú tại: tổ 9, phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng) vợ của Hoàng Minh Đ. Ngày 16/8/2022, khi Đ hỏi mượn chiếc xe mô tô C không biết việc Đ mượn để sử dụng đi bán ma túy, do vậy ngày 10/10/2022 cơ quan điều tra đã trả cho Hoàng Thị C.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị C không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về các vấn đề khác: Trong vụ án này về nguồn gốc số ma túy, Hoàng Minh Đ khai nhận được mua với một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen biết tại khu vực cổng Bến xe khách thành phố Cao Bằng vào ngày 15/6/2022. Tuy nhiên, việc trao đổi mua bán không có ai biết và chứng kiến nên không đủ căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Hoàng Minh Đ.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
Tuyên bố: bị cáo Hoàng Minh Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Hoàng Minh Đ 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 16/8/2022.
Xử phạt Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 16/8/2022.
2. Về xử lý vật chứng và tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 242/KTHS hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Minh Đ và Nguyễn Văn H. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. (Đã có Kết luận giám định ma túy số 242/GĐ-KTHS ngày 24/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng;
- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động màu hồng, mặt sau có chữ OPPO (màn hình cảm ứng) có số IMEI theo quyết định chuyển vật chứng: 865251031171278, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động màu xanh, mặt sau có chữ OPPO (màn hình cảm ứng) có số IMEI theo quyết định chuyển vật chứng: 862052051675856, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra được số IMEI.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) được thu giữ trong 01 phong bì niêm phong tiền Việt Nam: 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng). (Đã có Kết luận giám định số 258/KL-KHKT ngày 09/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng).
- Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) được thu giữ trong 01 phong bì niêm phong tiền Việt Nam: 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) do không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 22 ngày 22/11/2022.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Các bị cáo Hoàng Minh Đ và Nguyễn Văn H mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Sở tư pháp; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hanh |