- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lữ Văn T và ĐB - Tàng trữ TP chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Các bị cáo Lữ Văn T, Ngân Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 07/2023/HSST Ngày: 21/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Phú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dềnh Bá Lồng, ông Lầu Bá Dìa
Ghi biên bản phiên tòa: Ông Già Bá Lầu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vương Quốc Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 21/02/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2022/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lữ Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/9/1994; Nơi cư trú: bản P, xã L, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch : Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy;Trình độ học vấn: 5/12; Họ tên cha: Lữ Văn T – Sinh năm 1966; Họ và tên mẹ: Vi Thị H – Sinh năm 1964; Hiện cha mẹ bị cáo cư trú tại: bản P, xã L, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình; Tiền án: không; Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 169/2021/QĐ-TAND ngày 02/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An buộc Lữ Văn T phải chấp hành 18 tháng. Lữ Văn T chấp hành xong ngày 23/7/2022; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Kỳ Sơn - Có mặt.
2. Họ và tên: Ngân Văn L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 18/8/1992; Nơi cư trú: bản P, xã L, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch : Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy;Trình độ học vấn: 6/12; Họ tên cha: Ngân Văn M– Sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Lữ Thị Ch – Sinh năm 1970; Vợ: Lương Thị D – Sinh năm 1980; Con: Có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Hiện cha mẹ, vợ, con bị cáo cư trú tại: bản P, xã L, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con đầu trong gia đình; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 24/2018/HSST, ngày 24/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngân Văn L đã chấp hành xong bản án ngày 12/11/2019, đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Kỳ Sơn - Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lữ Văn T: Ông Nguyễn Văn Hùng - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An - Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Ngân Văn L: Ông Lê Công Thiết- Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ, ngày 21/11/2022, Lữ Văn T đi bộ đến nhà của Ngân Văn L tại bản P, xã L, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Tại nhà của L, T rủ L đi mua ma túy về sử dụng thì L đồng ý. Sau đó, L và T cùng đi bộ được một đoạn rồi xin đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết vào bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến nơi, L và T xuống xe đi lên đồi thuộc bản Đửa, xã Lượng Minh thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết, T và L cùng hỏi “Có ma túy bán không?”, người đàn ông đó trả lời “Có”. L lấy trong người ra số tiền 30.000 đồng đưa cho người đàn ông đó. Người đàn ông đó cầm lấy tiền rồi đưa cho L và T 01 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy màu hồng có chữ. Sau khi mua được ma túy, L và T lấy một ít ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại L gói lại như cũ, cầm trong lòng bàn tay trái của mình rồi cùng T đi bộ quay về. Đến khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 21/11/2022, T và L đi về đến khu vực bản L Thắng, xã Chiêu L, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An thì tổ công tác Công an xã Chiêu L, huyện Kỳ Sơn phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong bàn tay trái của L 01 gói chất màu trắng (nghi là Heroine) được gói trong mảnh giấy hồng có chữ. Tổ công tác Công an xã Chiêu L, huyện Kỳ Sơn đã niêm phong vật chứng và đưa T và L về về trụ sở Công an xã Chiêu L để làm việc.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại được lập vào hồi 21 giờ 00 phút ngày 21/11/2022 của Hội đồng mở niên phong Công an huyện Kỳ Sơn, xác định: ““01 (Một) gói chất màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ của Ngân Văn L và Lữ Văn T, sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng 0,125 gam (không phẩy một trăm hai mươi lăm gam). Hội đồng đã trích 0,05 gam (không phẩy không năm gam) chất màu trắng (nghi là ma túy) để gửi đi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 1324/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 27/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất màu trắng thu giữ của Ngân Văn L và Lữ Văn T gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất màu trắng thu giữ của Ngân Văn L và Lữ Văn T có khối lượng là 0,125 gam (không phẩy một trăm hai mười lăm gam).
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Sơn, Ngân Văn L và Lữ Văn T thừa nhận hành vi tàng trữ số Heroine trên nhằm mục đích để sử dụng. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án
Tại bản cáo trạng số 08/Ctr - VKS ngày 27/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã truy tố các bị cáo Lữ Văn T, Ngân Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 đối với các bị cáo Lữ Văn T và Ngân Văn L. Xử phạt Lữ Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; Xử phạt Ngân Văn L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Tại phiên tòa, những người bào chữa cho các bị cáo không tranh luận gì về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các bị cáo thống nhất như quan điểm bào chữa của người bào chữa, không có tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng, bị cáo nói: Hành vi của bị cáo là sai trái, bị cáo rất ăn năn, hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận:
Vào hồi 17 giờ 00 phút, ngày 21/11/2022, tại khu vực bản L Thắng, xã Chiêu L, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an xã Chiêu L, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã bắt quả tang Ngân Văn L và Lữ Văn T đang có hành vi tàng trữ 0,125 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng.
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Lữ Văn T và Ngân Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như bản cáo trạng đã truy tố là đúng pháp luật.
Xét tính chất, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng:
Hành vi của các bị cáo là liều lĩnh, coi thường pháp luật. Hành vi đó không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy mà còn gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân và nhiều hệ lụy khác cho xã hội. Vì vậy phải xử lý thật nghiêm hành vi của các bị cáo mới có tác dục giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này Lữ Văn T là người khởi xướng và rủ rê Ngân Văn L đi mua ma túy về sử dụng. Do đó xác định T có vai trò cao hơn trong vụ án này. Ngân Văn L là người thực hành tích cực, đồng thời là người sử dụng tiền của mình trực tiếp mua ma túy để cùng T sử dụng.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo Lữ Văn T là người đang có 01 tiền sự, năm 2021 bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị cáo Ngân Văn L là người có nhân thân xấu, trước lần phạm tội này, vào năm 2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An kết án 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Trong vụ án này, Lữu Văn T, Ngân Văn L khai đã đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết để đi mua ma túy và một người đàn ông người dân tộc Thái ở khu vực bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đã bán ma túy cho T và L. Tuy nhiên, do T và L không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể của những người đàn ông này, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Sơn không đủ căn cứ để xác minh làm rõ, xử lý trong vụ án này, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Sơn đã thu giữ của các bị cáo Lữ Văn T, Ngân Văn L 0,125 gam Heroine (đã lấy giám định hết 0,05 gam Heroine, còn lại 0,075 gam Heroine). Xét thấy 0,075 gam chất ma túy heroin còn lại là vật thuộc danh mục nhà nước cấm L hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố: Các bị cáo Lữ Văn T, Ngân Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
- Xử phạt: Bị cáo Lữ Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 21/11/2022.
- Xử phạt: Bị cáo Ngân Văn L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 21/11/2022.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Lữ Văn T, Ngân Văn L.
2/Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đã niêm phong và 0,075 gam (Không phẩy không bảy lăm gam) chất ma túy heroin còn lại thu giữ của Lữ Văn T, Ngân Văn L.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Kỳ Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn ngày 30/12/2022)
3/Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điều 23 Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Lữ Văn T, Ngân Văn L mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
4/ Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lữ Văn T, Ngân Văn L có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Công an huyện KỳSơn; - Chị cục THADS huyện KỳSơn; - Bị cáo; - L Hồ sơ vụ án; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Dềnh Bá Lồng Lầu Bá Dìa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Phú THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Văn Phú |