- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HSST Ngày 17/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quốc Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thực, ông Nguyễn Đắc Nghị.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023; Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 111/2022/TLST-HS ngày 02/12/2022; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 06/01/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh ngày 03/10/1973 tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn S, xã Minh Khai, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Trung B, đã chết và bà Phạm Thị T, sinh năm 1947; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ D. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 04/2009 ngày 14/01/2009 của Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2014, chấp hành xong tiền án phí và tiền xung quỹ nhà nước vào tháng 9/2009. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/7/2022 đến ngày 02/8/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình, trích xuất có mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1954. (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn Cộng Hoà, xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
+ Ông Lê Văn T, sinh năm 1966. (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Cộng Hoà, xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
+ Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1981. (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn Tân Dân, xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 30/7/2022, tổ công tác của công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đang làm nhiệm vụ tại khu vực đoạn đường ĐT455 thuộc địa phận thôn Cộng Hoà, xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, phát hiện Nguyễn Văn D có biểu hiện hoạt động tội phạm ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của Nguyễn Xuân T, ông Lê Văn T, anh Nguyễn Văn Q. Nguyễn Văn D đã thả 01 túi nilon trong suốt có viền dập, trên viền dập có đường kẻ ngang màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục từ lòng bàn tay trái xuống đất ngay cạnh chân D đang đứng ngoài ra cơ quan công an còn thu trên người D 01 điện toại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu đen đã qua sử dụng và số tiền 50.000 đồng. Cơ quan công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã đưa D và mời những người làm chứng về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (riêng biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ là 01 túi nilon trong suốt có viền dập, trên viền dập có đường kẻ ngang màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục thu giữ tại hiện trường thì D không ký biên bản). Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn D, cơ quan điều tra không quản lý, thu giữ đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Bản kết luận giám định số 304/KL-KTHS(MT) ngày 01/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 5,1367 gam (năm phẩy một nghìn ba trăm sáu mươi bảy gam).
Bản Cáo trạng số 117/CT-VKSHH, ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đã truy tố Nguyễn Văn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Nguyễn Văn D khai nhận: Bản thân là người nghiện ma tuý loại Heroine từ năm 2008, sau khi chấp hành xong hình phạt 07 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” trở về địa phương D vẫn tiếp tục sử dụng ma tuý và thường xuyên sang huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình để mua ma tuý loại Heroine để về sử dụng. Khoảng hơn 12 giờ ngày 30/7/2022 bị cáo được một người tên Nguyễn Xuân Q (tên thường gọi là Q) nhà ở xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Arblade màu vàng (bị cáo không nhớ biển kiểm soát) sang huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình để tìm mua xe máy cũ. Do đi sớm nên chưa có cửa hàng nào mở cửa nên bị cáo bảo Q đi về. Khi về đến địa phân xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Q rẽ vào cây xăng cạnh đường đổ xăng. Khi bị cáo xuống đứng đợi Q đổ xăng thì lực lượng công an huyện Hưng Hà đang làm nhiệm vụ tới yêu cầu kiểm tra bị cáo. Thu trên người bị cáo 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu đen đã qua sử dụng và số tiền 50.000 đồng, thu dưới đất cách khoảng 1,5 mét đến 2 mét chỗ bị cáo đứng 01 túi nilon trong suốt có viền dập, trên viền dập có đường kẻ ngang màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Do túi nilon này không phải là của bị cáo nên khi lực lượng công an yêu cầu bị cáo ký biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ và ký vào mép dán phong bì niêm phong bị cáo không ký.
Tại phiên toà người làm chứng là ông Nguyễn Xuân T, anh Nguyễn Văn Q và tại biên bản ghi lời khai của ông Lê Văn T đều khai: Ông T, ông T và anh Q đều không có mâu thuẫn gì với D. Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 30/7/2022 ông T, ông T và anh Q có việc đi qua khu vực cây xăng thuộc thôn Cộng Hoà, xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thì thấy có lực lượng công an kiểm tra một người đàn ông (sau này mới biết người đàn ông này tên là Nguyễn Văn D, sinh năm 1973, ở thôn T, xã Minh Khai, huyện Hưng Hà) nên đứng lại xem thì đều nhìn thấy D thả từ tay trái xuống đất ngay cạnh chân D đang đứng 01 túi nilon trong suốt có viền dập, trên viền dập có đường kẻ ngang màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, lực lượng công an hỏi D chất bột màu trắng đó là gì nhưng D không khai gì. Sau đó lực lượng công an cho túi nilon có chứa chất bột màu trắng dạng cục vào phong bì và dán kín lại và mời một số người có mặt tại đó ký tên vào mép phong bì đã được dán kín, cơ quan công an có yêu cầu D ký nhưng D không ký. Cơ quan công an tiếp tục kiểm tra người D thu giữ 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu đen đã qua sử dụng và số tiền 50.000 đồng.
Sau khi nghị án bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định quay lại phần xét hỏi. Bị cáo khai khi bị tổ công tác của công an huyện Hưng Hà kiểm tra bị cáo đã thả từ lòng bàn tay trái xuống đất ngay cạnh chân bị cáo đang đứng 01 túi nilon trong suốt có viền dập, trên viền dập có đường kẻ ngang màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục đó là ma tuý Heroine của bị cáo tàng trữ về để sử dụng và xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 05 năm 03 tháng tù đến 05 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/7/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, quyết định án phí hình sự theo luật định.
Bị cáo Nguyễn Văn D đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại biên bản ghi lời khai của người làm chứng vắng mặt tại phiên toà và lời khai người làm chứng có mặt tại phiên toà đều khai nhận nhìn thấy bị cáo thả từ tay trái xuống đất ngay cạnh chân D đang đứng 01 túi nilon trong suốt có viền dập, trên viền dập có đường kẻ ngang màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và cam đoan lời khai trên của họ là hoàn toàn đúng sự thật.
[3] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Hưng Hà lập hồi 14 giờ 45 phút ngày 30/7/2022 tại trụ sở UBND xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà (bút lục 38, 39), biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện Hưng Hà lập hồi 16 giờ 35 phút ngày 30/7/2022 tại trụ sở UBND xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà (bút lục 40), bản kết luận giám định số 304/KL-KTHS(MT) ngày 01/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục 45), Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường do công an huyện Hưng Hà lập hồi 14 giờ 20 phút ngày 30/7/2022 (bút lục 42-44); lời khai của những người làm chứng (bút lục 96-113) và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[4] Từ những phân tích nêu trên; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 20 phút, ngày 30/7/2022 tại khu vực đường ĐT455, thuộc địa thôn Cộng Hoà, xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Nguyễn Văn D, sinh năm 1973, nơi cư trú thôn T, xã Minh Khai, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có hành vi tàng trữ trái phép 5,1367 gam (năm phẩy một nghìn ba trăm sáu mươi bảy gam) ma tuý, loại Heroine. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ......
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
…; g) Heroine, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam; …
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc D định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[5] Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe và làm suy kiệt kinh tế gia đình của người sử dụng, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự xã hội, Nhà nước cũng đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán,... trái phép chất ma túy, bị cáo có nhân thân xấu đã bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma tuý và phải chịu hình phạt nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện việc bị cáo coi thường pháp luật nên cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo quanh co, nhưng sau khi hội đồng xét xử nghị án và quay trở lại phần xét hỏi thì bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về hình phạt bổ sung bị cáo tàng trữ ma tuý nhưng bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không cần phải xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về nguồn gốc ma túy tại phiên tòa bị cáo khai là của một người thanh niên không biết tên tuổi địa chỉ tại thị trấn Quỳnh Côi, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ngoài lời khai của bị cáo tại phiên toà thì không có tài liệu nào khác xác định con người cụ thể đã bán ma tuý cho bị cáo do đó không có căn cứ để xử lý.
[7] Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai khoảng hơn 12 giờ ngày 30/7/2022 bị cáo được một người tên Nguyễn Xuân Q (tên gọi khác Q) nhà ở thôn Thọ Lộc, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình điều khiển xe mô tô Ablade màu vàng (không nhớ biển kiểm soát) chở sang huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tìm mua xe máy cũ. Do đi sớm nên chưa có cửa hàng nào mở cửa nên bị cáo bảo Q đi về. Khi về đến địa phận xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà thì Q rẽ vào cây xăng ở cạnh đường để đổ xăng. Khi bị cáo xuống xe đứng đợi Q đổ xăng thì lực lượng công an tới kiểm tra. Công an huyện Hưng Hà đã tiến hành điều tra xác minh xác định tại thôn Thọ Lộc, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có người đàn ông tên Nguyễn Xuân Q (tên gọi khác Q), sinh năm 1980. Trong hồ sơ thể hiện vào ngày 30/7/2022 do không có công việc gì làm nên anh Q ở nhà cũng mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Non không đi đâu, làm gì khác. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
[8] Về xử lý vật chứng của vụ án số ma túy cơ quan điều tra quản lý của bị cáo sau khi được giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số 304/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình xét thấy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu đen đã qua sử dụng và số tiền 50.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo.
[9] Về án phí bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo bị cáo Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g, khoản 2, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/7/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn D được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 304/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Trả lại Nguyễn Văn D 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu đen đã qua sử dụng và số tiền 50.000 đồng được niêm phong trong phong bì số 185/KL-KTHS(TL) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Các vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/01/2023).
4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:
| - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; - Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; - THADS huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; - Phòng PV06, PC10, PC11; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Quốc Khánh |