vanban.org

Bản án 07/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 03/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Bích H Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Bích H được ly hôn với anh Phạm Anh D Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂKLĂK
Bản án số: 07/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 03 - 2023
V/v: “Kiện ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mạnh và ông Hoàng Duy Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cư Mgar

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Long – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 03 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 407/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2022 về việc “Kiện ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 23/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST – HNGĐ ngày 10/03/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lương Thị Bích H; sinh năm 1999 (có mặt)

- Bị đơn: Anh Phạm Anh D; sinh năm 1993 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã E K, huyện CM, tỉnh Đăk Lăk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Lương Thị Bích H trình bày:

Tôi và anh Phạm Anh D có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/03/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Ea Kpam, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không hòa hợp, không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên tôi làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar giải quyết cho được ly hôn với anh Phạm Anh D.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Phạm Lương Gia B, sinh ngày 06/5/2018. Hiện nay anh D đang trực tiếp nuôi dưỡng nên tôi có nguyện vọng giao cháu Bảo cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi và Tôi sẽ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar đã triệu tập anh Phạm Anh D để giao thông báo thụ lý vụ án, làm bản tự khai, thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Phạm Anh D vẫn vắng mặt không có lý do. Qua xác minh tại chính quyền địa phương vào ngày 06/12/2022 được biết anh Phạm Anh D có hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng anh Phạm Anh D thường xuyên vắng mặt ở nhà vào giờ làm việc hành chính.

Tại phiên tòa, chị Lương Thị Bích H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án:

- Đối với Thẩm Phán: đã thực đầy đủ các quy đinh của Bộ luật tố tụng dân sự và thực hiện đúng thời hạn xét xử.

- Đối với Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa: đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

- Đối với đương sự:

Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Bích H; Chị Lương Thị Bích H được ly hôn với anh Phạm Anh D. Giao cháu Phạm Lương Gia B, sinh ngày 06/5/2018 cho anh Phạm Anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Chị Lương Thị Bích H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lương Thị Bích H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:

Chị Lương Thị Bích H yêu cầu được ly hôn và con chung với anh Phạm Anh D nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Anh Phạm Anh D có hộ khẩu thường trú tại xã Ea Kpam, huyện Cư Mgar. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Cư Mgar nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh Phạm Anh D vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Bích H và anh Phạm Anh D có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/03/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Ea Kpam, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa chị Lương Thị Bích H và anh Phạm Anh D thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hạnh phúc và hiện nay đã sống ly thân. Nay chị Lương Thị Bích H yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Anh D, xét yêu cầu của chị Lương Thị Bích H là phù hợp vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cần xem xét yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Lương Thị Bích H.

Như vậy, hôn nhân giữa chị Lương Thị Bích H và anh Phạm Anh D đã trầm trọng, việc chị Lương Thị Bích H yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Anh D là chính đáng cần được chấp nhận.

Về con chung: Chị Lương Thị Bích H và anh Phạm Anh D có 01 con chung là cháu Phạm Lương Gia B, sinh ngày 06/5/2018, hiện nay cháu B đang được anh Phạm Anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định và chị Lương Thị Bích H cũng có nguyện vọng giao cháu Bảo cho anh D trực tiếp chăm sóc cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy xét nguyện vọng của chị Lương Thị Bích H là chính đáng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện nay nên giao cháu Phạm Lương Gia B, sinh ngày 06/5/2018 cho anh Phạm Anh D tiếp tục để chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lương Thị Bích H tự nguyện cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng cho cháu B. Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng tự nguyện cấp dưỡng nôi con chung của chị H là chính đáng cần được chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lương Thị Bích H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Lương Thị Bích H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng vào các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Bích H

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Bích H được ly hôn với anh Phạm Anh D

Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Phạm Lương Gia B, sinh ngày 06/5/2018 cho anh Phạm Anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lương Thị Bích H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Phạm Lương Gia B, sinh ngày 06/5/2018, số tiền 2.000.000đ/tháng, kể từ ngày xét xử sơ thẩm ngày 28/03/2023 cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Lương Thị Bích H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lương Thị Bích H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình:

Chị Lương Thị Bích H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con chung được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà chị Lương Thị Bích H đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0013704 ngày 07/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar. Chị Lương Thị Bích H phải nộp thêm 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

ĐẶNG NGỌC THẮNG

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- VKS tỉnh; TA tỉnh DakLak;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKS huyện CưM’gar;

- Thi hành án dân sự CưM’gar;

- Nguyên đơn, bị đơn;

- UBND xã Ea Kiết, huyện Cư Mgar;

- Lưu Hsơ vụ án, lưu TA

ĐẶNG NGỌC THẮNG

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- VKS tỉnh; TA tỉnh DakLak;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKS huyện CưM’gar;

- Thi hành án dân sự CưM’gar;

- Nguyên đơn, bị đơn;

- UBND xã Ea Đrơng, huyện Cư Mgar;

- Lưu Hsơ vụ án, lưu TA

ĐẶNG NGỌC THẮNG

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- VKS tỉnh; TA tỉnh DakLak;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKS huyện CưM’gar;

- Thi hành án dân sự CưM’gar;

- Nguyên đơn, bị đơn;

- UBND xã Ea Đrơng, huyện Cư Mgar;

- Lưu Hsơ vụ án, lưu TA

ĐẶNG NGỌC THẮNG THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ