vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 06/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc D pham tội “Lam dụng tín nhiệm chiếm đoat tài sản”.

Xư phat bị cáo Phạm Ngọc D 04 (bốn) năm tù. Tổng hợp hinh phat vơi Bản án số 58/2022/HS-ST ngày 10/6/2022 của Toa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xư phat bị cáo Pham Ngọc D 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản ”.Thời han chấp hành hinh phat tù tính từ ngày 02/3/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc D pham tội “Lam dụng tín nhiệm chiếm đoat tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST;
Ngày: 06-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thâm phan – Chu toa phiên toa: Ông Nguyễn Huỳnh Trường;

Cac Hôi thâm nhân dân:

Ông Đặng Thế Ứng;

Ông Trần Văn Tám;

Thư ky phiên toa: Ông Phạm Văn Nhàn – Thư ký Toa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đai diên Viên kiêm sat nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toa: Ông Nguyễn Trân Quốc Vương - Kiêm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2023, tai trụ sở Toa án nhân dân thị xã Cai Lậy xet xư sơ thâm công khai vụ án hinh sư sơ thâm thụ lý số 73/2022/HSST ngày 23 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xet xư số74/QĐXXST-HS ngày 11/01/2023 đối vơi bị cáo:

Phạm Ngọc D Giơi tính: Nam,T gọi khác: không,Sinh ngày 17 tháng 3 năm 1990; tai: tỉnh Tiền Giang.Nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.Nghề nghiệp: không. Quốc tịch:Việt Nam.Dân tộc: Kinh.Tôn giáo: không.Trinh độ văn hóa:09/12.Cha: Pham Văn H, sinh năm 1962.Mẹ: Phan Thị Đ, sinh năm 1966.Cả hai đăng ký thường trú: ấp T, xã T, thị xã C,tỉnh Tiền Giang.Anh,chị em có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đinh. Bị cáo chung sống như vợ chồng vơi Trần Thị Thu N, sinh năm 1993, có 02 con sinh năm 2017 và 2018; hiện không con chung sống vơi Trần Thị Thu N.Năm 2019 bị cáo chung sống như vợ chồng vơi Phan Thị Thùy T1, sinh năm 1997, nơi thường trú: ấp B, thị Trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre, có 01 con sinh ngày 31/01/2022.

- Tiền án:

+ Ngày 27/11/2013, Toa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xư phat 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tai khoản 1 Điều 138 Bộ luật hinh sư năm 1999, sưa đổi bổ sung năm 2009 theo Bản án số 72/2013/HS-ST.

+ Ngày 27/3/2014, Toa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xư phat 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tai khoản 1 Điều 138 Bộ luật hinh sư năm 1999, sưa đổi bổ sung năm 2009 theo Bản án số 22/2014/HS-ST. Tổng hợp hinh phat vơi Bản án số 72/2013/HS-ST ngày 27/11/2013 của Toa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo D chấp hành hinh phat chung của 02 bản án là 03 năm. Bị cáo D chấp hành xong bản án ngày 06/3/2016.

+ Ngày 20/8/2019, Toa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xư phat 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tai khoản 1 Điều 173 Bộ luật hinh sư theo Bản án số 38/2019/HS-ST. Bị cáo D chấp hành xong bản án ngày 27/8/2020.

- Tiền sư: không

- Đặc điêm nhân thân: Từ nhỏ sống cùng cha mẹ tai ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

+ Ngày 22/4/2005, Toa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xư phat 12 năm tù về tội Giết người và cươp tài sản theo quy định tai điêm đ, g khoản 1 Điều 93, khoản 1 Điều 133 Bộ luật hinh sư năm 1999, sưa đổi bổ sung năm 2009 theo Bản án số 33/2005/HSST. Bị cáo D chấp hành xong bản án ngày 27/01/2013. Do thời điêm pham tội và xet xư, bị cáo D chưa đủ 16 tuổi nên đương nhiên được xóa án tích.

+ Ngày 10/6/2022,Toa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xư phat 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tai điêm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hinh sư theo Bản án số 58/2022/HS-ST. Bị cáo D đang chấp hành án.

- Bị cáo đang chấp hành án tai trai giam C-Cục C1 Bộ C2.

( Có mặt tai phiên toa)

* Bị hai:

Thái Hồng T2, sinh năm 1966 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Pham Thị Hồng T3, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tai phiên toa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/01/2022, bị cáo Pham Ngọc D, sinh năm 1990, thường trú ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang thưc hiện hành vi trộm cắp tài sản tai phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre nên bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố bị can và ra lệnh truy nã. Do biết bị truy nã nên bị cáo D không dám ở nhà mà đến thuê phong trọ số I, nhà trọ tháng 68 tai khu phố M, phường N, thị xã C do anh Thái Đức H1, sinh năm 1970 làm chủ đê sống cùng Phan Thị Thùy T1, sinh năm 1997, thường trú ấp B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.Tai đây, bị cáo D quen biết vơi chị Thái Hồng T2, sinh năm 1996, thường trú ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (cùng thuê nhà trọ tháng 68). Khoảng 15 giờ ngày 20/6/2021, bị cáo D hỏi mượn xe mô tô biên số 71B3 – 973.17 của chị T2 đê chở chị T1 đi khám thai. Bị cáo D điều khiên xe mô tô biên số 71B3 – 973.17 chở chị T1 đến phong khám thai của bác sĩ N tai khu phố A, phường E, thị xã C nhưng phong khám không hoat động nên bị cáo D chở chị T1 xuống thành phố M đê khám thai (không rõ địa chỉ). Trong lúc chị T1 vào phong khám, bị cáo D ngồi đợi và nảy sinh ý định cầm xe mô tô biên số 71B3 – 973.17 đê lấy tiền tiêu xài. Bị cáo D điều khiên xe đến tiệm game bắn cá tọa lac xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre do anh Bùi Trung H2, sinh năm 1992, thường trú ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bến Tre làm chủ đê cầm xe nhưng anh H2 không nhận cầm xe.Bị cáo D điều khiên xe quay trở lai rươt chị T1 thi anh H2 điện nói có anh Trần Phú Q, sinh năm 1992, thường trú ấp H, xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre đồng ý nhận cầm xe. Bị cáo D điều khiên xe chở chịTrang đến gặp anh Q và cầm được 6.000.000đồng. Không thấy bị cáo D trả xe nên chị T2 nhiều lần điện thoai cho bị cáo D nhưng bị cáo D không nghe máy. Ngày 21/6/2021, chị T2 tiếp tục điện thoai cho bị cáo D đê đoi xe, bị cáo D nói cho chị T2 biết đã cầm xe cho anh Q và nhắn tin cho chị T2 số điện thoai của anh Q đê chị T2 chuộc xe về. Sau đó chị T2 nhiều lần liên lac vơi bị cáo D nhưng không được nên đến Công an phường N trinh báo sư việc. Đối vơi xe mô tô biên số 71B3 – 973.17, anh Q dùng chở hàng và bị rơt biên số. Sau khi biết bị cáo D chiếm đoat xe của chị T2 thi anh Q đã giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an thị xã C.

Vật chứng trong vụ án thu giữ:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter không biên số.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biên số 71B3 – 973.17.

Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG, ngày 13/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hinh sư thị xã C xác định xe mô tô biên số 71B3 – 973.17 trị giá 21.600.000đồng.

Xư lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị Thái Hồng T2 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter không biên số và 01 giấy đăng ký xe.

Về trách nhiệm dân sư: Quá trinh điều tra, chị Phan Thị Thùy T1 bồi thường cho chị Thái Hồng T2 số tiền 6.000.000đồng. Chị T2 đã nhận tiền và không yêu cầu bị cáo D bồi thường gi thêm; anh Trần Phú Q không yêu cầu bị cáo D bồi thường số tiền 6.000.000đồng nhận cầm xe.

Tai bản cáo trang số 02/CT-VKSTXCL ngày 20/12/2022 Viện kiêm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố bị cáo Pham Ngọc Duy về tội “Lam dụng tín nhiệm chiếm đoat tài sản” theo quy định tai điêm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hinh sư.Tai phiên toa, đai diện Viện kiêm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Toa án căn cứ điêm g khoản 2 Điều 175; Điều 38; điêm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hinh sư xư phat bị cáo Pham Ngọc D mức án từ 04 năm tù đến 05 năm tù. Căn cứ Điều 56 Bộ luật hinh sư tổng hợp hinh phat vơi Bản án số 58/2022/HS-ST ngày 10/6/2022 của Toa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xư phat bị cáo Pham Ngọc D 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản ”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thâm tra, xet hỏi,tranh tụng tai phiên toa,Toa án nhận định như sau: 

Tai phiên toa, bị cáo Pham Ngọc D khai nhận về hành vi bị cáo đã thưc hiện đúng như nội dung bản cáo trang của Viện kiêm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp vơi lời khai người bị hai, những người tham gia tố tụng khác,vật chứng thu giữ cùng các chứng cứ,tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thâm tra, xet hỏi tai phiên toa:Vào ngày 20/6/2021, tai khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, bị Pham Ngọc D có hành vi lam dụng tín nhiệm chiếm đoat tài sản của chị Thái Hồng T2 01 xe mô tô biên số 71B3-973.17 trị giá 21.600.000 đồng. Bị cáo D có tiền án chưa được xóa án tích lai tiếp tục pham tội thuộc trường hợp tái pham nguy hiêm. Do đó, đủ căn cứ kết luận bị cáo Pham Ngọc D pham tội “Lam dụng tín nhiệm chiếm đoat tài sản” tội pham và hinh phat được quy định tai điêm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hinh sư.

Hành vi pham tội của bị cáo là nguy hiêm cho xã hội, xâm pham bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hai được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tư, an toàn xã hội tai địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân, bị cáo pham tội thuộc trường hợp tái pham nguy hiêm cần xư phat bị cáo hinh phat thật nghiêm tương xứng vơi tính chất, mức độ do hành vi pham tội của bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo vơi xã hội một thời gian nhằm cải tao, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phong ngừa chung.

Tuy nhiên, xet thấy quá trinh điều tra và tai phiên toa bị cáo tỏ thái độ thành khân khai báo, ăn năn hối cải thuộc tinh tiết giảm nhẹ quy định tai điêm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hinh sư; bị cáo có cha là Pham Văn H được tặng Huân chương chiến công hang 3 gia đinh có công vơi cách mang thuộc tinh tiết giảm nhẹ quy định tai khoản 2 Điều 51 Bộ luật hinh sư,Toa án xem xet giảm nhẹ một phần khi quyết định hinh phat đối vơi bị cáo.

Anh Bùi Trung H2 có hành vi giơi thiệu anh Trần Phú Q nhận cầm xe 71B3-973.17 và anh Trần Phú Q có hành vi nhận cầm xe mô tô biên số 71B3-973.17 nhưng anh H2 và anh Q không biết xe do bị cáo Pham Ngọc D pham tội mà có.Do đó, hành vi của anh H2 và anh Q không cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác pham tội mà có.

Chị Phan Thị Thùy T1 cùng bị cáo Pham Ngọc D mượn xe mô tô 71B3-973.17 của chị Thái Hồng T2 đi khám thai, bị D đem cầm xe lấy số tiền 6.000.000đồng chị T1 hoàn toàn không biết nên không đồng pham trong vụ án này.Khi bị cáo D cầm xe xong thi chị T1 mơi biết, sau đó đã chủ động đưa số tiền 6.000.000đồng đê chị T2 đi chuộc xe dùm, mặt khác chị T1 sống như vợ chồng vơi bị cáo D có 01 con chung. Ngoài ra chị T1 cũng không biết bị cáo D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre truy nã về tội trộm cắp tài sản. Do đó hành vi của chị T1 không pham tội che giấu tội pham và không tố giác tội pham.

Về xư lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị Thái Hồng T2 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter không biên số và 01 giấy đăng ký xe nên không đặt ra xem xet .

Về trách nhiệm dân sư: Quá trinh điều tra, chị Phan Thị Thùy T1 bồi thường cho chị Thái Hồng T2 số tiền 6.000.000đồng. Chị T2 đã nhận tiền và không yêu cầu bị cáo D bồi thường gi thêm; anh Trần Phú Q không yêu cầu bị cáo D bồi thường số tiền 6.000.000đồng nhận cầm xe nên không đặt ra xem xet

Quá trinh điều tra, truy tố, xet xư các hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiêm sát viên đã thưc hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hinh sư.

Lời đề nghị của Kiêm sát viên tai phiên toa về mức hinh phat đối vơi bị cáo là có căn cứ,Toa án xem xet khi quyết định hinh phat đối vơi bị cáo.

Về án phí:bị cáo phải chịu theo quy định tai Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì cac lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc D pham tội “Lam dụng tín nhiệm chiếm đoat tài sản”.

Căn cứ điêm g khoản 2 Điều 175; Điều 38; điêm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hinh sư.

Xư phat bị cáo Phạm Ngọc D 04 (bốn) năm tù.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật hinh sư.

Tổng hợp hinh phat vơi Bản án số 58/2022/HS-ST ngày 10/6/2022 của Toa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xư phat bị cáo Pham Ngọc D 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản ”.Thời han chấp hành hinh phat tù tính từ ngày 02/3/2022.

Buộc bị cáo Phạm Ngọc D chấp hành hình phạt chung 06(sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.Thời han chấp hành hinh phat tù tính từ ngày 02/3/2022.

Về án phí:Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hinh sư và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hinh sư sơ thâm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thâm trong thời han 15 ngày kê từ ngày tuyên án. Bị hai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thâm trong thời han 15 ngày kê từ ngày nhận bản án hoặc kê từ ngày bản án được tống đat hợp lệ đê yêu cầu Toa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xet xư phúc thâm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ