vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 16/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 11 năm 2022. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ THƯ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày 16-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nhiễu.

2. Ông Phạm Đức Hiển.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tho - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Nhẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn S, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1977 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn Đông T, xã Vũ T, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: Không biết chữ; con ông Trần Văn M và bà Trần Thị Th (đều đã chết); có vợ là chị Nguyễn Thị L; bị cáo có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Từ nhỏ sống phụ thuộc gia đình, sau đó ở nhà lao động tự do. Bản án số 52/2015/HS-ST ngày 18/3/2015 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, xử phạt 02 năm tù về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01/12/2014. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2016. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 07/5/2015.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/11/2022, đến ngày 09/11/2022 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (Có mặt).

- Người làm chứng: Ông Trần Ngọc Ch, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Thôn Đông T, xã Vũ T, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

- Người chứng kiến:

1. Anh Nguyễn Viết Đ, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn An L, xã Trung A, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Số nhà 6/5, ngõ 159, tổ 4, phường Ph, TP Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07/11/2022, Trần Văn S điều khiển xe mô tô dán nhãn hiệu Jupiter, biển số 17 K9 - 6781 đi đến nhà Trần Ngọc Ch ở cùng thôn chơi. Sau đó, Ch nhờ S chở lên thành phố Thái Bình để khám mắt. Sáng đồng ý và điều khiển xe mô tô chở Ch đến Bệnh viện mắt Thái Bình. Trong lúc Ch vào viện để khám mắt, S đứng ngoài cổng đợi thì S nảy sinh ý định đi mua ma túy Heroine để sử dụng. Trần Văn S điều khiển xe mô tô đi đến khu vực đường trước cổng Bệnh viện nhi Thái Bình thì gặp một nam thanh niên khoảng 20 tuổi (không biết tên và địa chỉ) đứng ở cạnh đường, đoán người này có ma túy bán nên Sáng laị gần hỏi mua 600.000 đồng Heroine, nam thanh niên đồng ý, S đưa cho nam thanh nhiên 600.000 đồng, nhận tiền xong, nam thanh nhiên đưa lại cho Trần Văn S 01 gói bên ngoài được gói bằng nilon màu đen, biết mua được ma túy, S không mở ra kiểm tra mà cất gói ma túy vào túi quần dài bên trái phía trước đang mặc rồi điều khiển xe quay lại Bệnh viện mắt chở Trần Ngọc Ch đi về.Đến 11 giờ 00 phút cùng ngày, khi S chở Ch về tới trục đường liên xã thuộc thôn An L, xã Trung A, huyện Vũ Thư thì bị tổ công tác Công an huyện Vũ Thư yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Viết Đ và anh Nguyễn Tiến V, tổ công tác kiểm tra người, phương tiện của S và Ch. Quá trình kiểm tra người Trần Văn S phát hiện, thu giữ tại túi quần dài phía trước bên trái S đang mặc 01 gói nilon màu đen, mở ra bên trong có chứa 03 gói đều gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, S khai nhận đây là ma túy, loại Heroine S vừa mua được để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra người đối với Trần Ngọc Ch và xe mô tô biển số17K9-6781 mà S điều khiển không phát hiện và thu giữ gì.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Kết luận giám định số 414/KL-KTHS(MT), ngày 08/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,9288 gam (không phẩy chín nghìn hai trăm tám mươi tám gam)

Heroin (Heroine) STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

Bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSVT ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư đã truy tố bị cáo Trần Văn S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố: Bị cáo Trần Văn S phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Trần Văn S mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 11 năm 2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,8823 (không phẩy tám nghìn tám trăm hai mươi ba) gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 414/KL-KTHS(MT) của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các chứng cứ buộc tội bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản tạm quản lý phương tiện; Bản kết luận giám định số 414/KL-KTHS(MT); Bản tự khai và biên bản ghi lời khai của người làm chứng là Trần Ngọc Ch và những người chứng kiến là anh Nguyễn Viết Đ và anh Nguyễn Tiến V.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 07 tháng 11 năm 2022, tại trục đường liên xã thuộc thôn An Lộc, xã Trung An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Trần Văn S có có hành vi tàng trữ trái phép trên người 03 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,9288 gam, để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của Trần Văn S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

c) Heroine, Cocaine,Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,9288 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân của Trần Văn S là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn ma tuý đang là hiểm họa của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Những năm qua, tệ nạn ma tuý ở Việt Nam vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp và có xu hướng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại ma tuý mới. Ma túy là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của đất nước. Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ dẫn đến mất khả năng lao động, suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia.

Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, thể hiện sự coi thường pháp luật.

Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo S có nhân thân xấu. Ngày 18/3/2015, Toà án nhân dân thành phố Thái Bình đã xử phạt bị cáo 02 năm tù về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học để thay đổi bản thân.

Bị cáo Sáng không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt:

Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Xét thấy, bị cáo Sáng tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không vì mục đích vụ lợi. Bị cáo lao động tự do, không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy, loại Heroine giám định hoàn lại còn lại 0,8823 (không phẩy tám nghìn tám trăm hai mươi ba) gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số: 414/KL - KTHS (MT) của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật chứng của vụ án, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu để tiêu huỷ.

Những vấn đề khác trong vụ án:

Về nam thanh niên đã bán ma túy cho S, do S khai không quen biết, không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Trần Ngọc Ch là người đi cùng Trần Văn S. Quá trình điều tra xác định Ch không biết việc S đi mua, cất giấu ma túy trong người vì vậy Cơ quan điều tra không xử lý đối với Ch là phù hợp.

Đối với xe mô tô dán nhãn hiệu Jupiter, biển số 17K9-6781 sơn màu đen bạc đã cũ đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định, tên chủ xe là chị Nguyễn Thị S sinh năm 1976 trú tại thôn Thái, xã Nguyên X, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, năm 2016, chị S bán chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị L sinh năm 1978, trú tại thôn Đông Tiên, xã Vũ Tiến, huyện Vũ Thư (là vợ Trần Văn S), chị L không biết S sử dụng xe mô tô đi mua ma túy, vì vậy Cơ quan điều tra đã lại chiếc xe mô tô cho chị L là đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 11 năm 2022.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 0,8823 (không phẩy tám nghìn tám trăm hai mươi ba) gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số: 414/KL - KTHS (MT) của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư theo Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án và Phiếu nhập kho ngày 16 tháng 01 năm 2023).

4. Về án phí: Bị cáo Trần Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16 tháng 02 năm 2023).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ