- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn E phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:07/2023/HS-ST Ngày 21-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Hưng và ông Cụt Xuân Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn E. Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 18 tháng 6 năm 1985. Tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản C, xã LM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An;Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vi Văn K (Đã chết) và bà Lương Thị M (Đã chết). Vợ: Lương Thị S (Đã ly thân); con: 02 con;Tiền án: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đến ngày 05/6/2022 chấp hành xong hình phạt; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2022 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
-Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Hà – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An (Có mặt) -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Moong Văn T (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản C, xã LM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
-Người làm chứng: Anh Quang Văn D (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản C, xã LM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào 20 giờ ngày 28 tháng 9 năm 2022, Vi Văn E đang ngồi sau xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu vàng đen, mang biển kiểm soát 37D1- 04947 do Quang Văn D (sinh năm 1996, trú tại bản C, xã LM, huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An) điều khiển đi theo hướng từ bản C đến bản XM, xã LM, huyện Tương Dương, khi đi đến khu vực cầu XM thuộc bản XM, xã LM, huyện Tương Dương thì bị tổ công tác Công an xã YN, huyện Tương Dương phát hiện và bắt quả tang đối với Vi Văn E về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình bắt giữ, tô công tác đã phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của Vi Văn E 01 gói bao potylen màu trắng, bên trong chứa 02 gói nhỏ, trong đó 01 gói được gói bằng bao potylen màu xanh bên trong chứa các viên nén màu hồng và 01 gói được gói bằng bao potylen màu trắng bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng cùng chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu vàng đen, mang biên kiểm soát 37D1-04947. Vi Văn E khai nhận gói chứa nén màu hồng là ma túy hồng phiến còn gói chứa tinh thể rắn màu trắng là ma túy đá đều là của E mua về để sử dụng. Sau đó Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong thu giữ vật chứng đối với Vi Văn E.
Kết luận giám định số: 1200/KTHS (Đ2-MT)ngày 03/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An xác định: Mẫu viên nén màu hồng và tinh thể trắng thu giữ của Vi Văn E gửi tới giám định đều là ma túy Methamphetamine. Số viên nén màu hồng và số tinh thể rắn màu trắng thu giữ của Vi Văn E lần lượt có khối lượng là 17,72 gam và 2,06 gam.
Bản cáo trạng số 12/CT-VKS-TD ngày 11 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Vi Văn E về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g,o khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g,o khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1Điều 51Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo: Vi Văn E mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo theo đúng quy định của pháp luật;
Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo
Tại phiên tòa người bào chữa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét nhận thức pháp luật của bị cáo đang bị hạn chế, cư trú vùng sâu, vùng xa cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất nhất như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cụ thể 07 năm tù và miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo.
Bị cáo Vi Văn E đồng ý với quan điểm truy tố của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt chobị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công An huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội củabị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Vào 20 giờ ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại khu vực cầu XM thuộc bản XM, xã LM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Vi Văn E đã có hành vi tàng trữ trái phép 19,78 (Mười chín phẩy bảy mươi tám) gam Methemphetamine. Đồng thời, bị cáo Vi Văn E đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý. Như vậy hành vi của Vi Văn E đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g,o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Chính vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố bị cáo Vi Văn E theo tội danh và Điều luật viện dẫn ở trên là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Đây là vụ án rất nghiêm trọng bởi hành vi phạm tội củabị cáo phạm vào khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự, điều luật có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự lẽ ra cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo, song xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, không có tài sản được tạo lập từ hành vi phạm tội, khó có khả năng thi hành nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người đàn ông không quen biết đã bán ma túy cho Vi Văn E. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tương Dương chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Quang Văn D là người điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu vàng đen, mang biển kiểm soát 37D1-049.47 để chở Vi Văn E đi chơi ở bản Đ, xã LM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Do Quang Văn D không biết việc Vi Văn E tàng trữ trái phép chất ma túy nên hành vi của Quang Văn D không cấu thành tội phạm.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 19,78 (Mười chín phẩy bảy mươi tám) gam Methemphetamine (Đã lấy 0,7 gam gửi đi giám định, còn lại 19,08 gam) cùng vỏ giấy niêm phong cũ là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu vàng đen, mang biển kiểm soát 37D1-049.47. Quá trình điều tra, xác minh được chủ sở hữu hợp pháp là của anh Moong Văn T (sinh năm 1994, trú tại bản C, xã LM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An). Do anh T không biết việc Quang Văn D mượn xe mình để chở Vi Văn E nên đã trả lại cho Moong Văn T là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo là người sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm chobị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm g,o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vi Văn E phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm g,o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Vi Văn E 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2022.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/01/2023 giữa cơ quan Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An).
-Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Văn E.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 21/02/2023.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND, VKSND tỉnh NA;
- VKS Tương Dương;
- Công an H. Tương Dương;
- UBND xã LM;
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan;
Hoàng Văn Cường
- Sở Tư Pháp Nghệ An;
- Chi cục THADS Tương Dương;
- Lưu hồ sơ vụ án;
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Hưng
Cụt Xuân Ninh
Hoàng Văn Cường
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKS Tương Dương; - Công an H. Tương Dương; - UBND xã LM; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Sở Tư Pháp Nghệ An; - Chi cục THADS Tương Dương; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Cường |