- Tranh chấp gì? án hình sự — "T vi phạm quy định về giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HS-ST Ngày: 10/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Vy.
2. Ông Nguyễn Nhân Phái, nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Anh Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Đức N - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại Toà án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022, đối với:
- Bị cáo Võ T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 28/10/2005, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ H, sinh năm 1976 và bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1983; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không, bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
+ Anh Võ H, sinh năm 1976 và chị Huỳnh Thị N1, sinh năm 1983 Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị Thùy T1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, chi nhánh S. Địa chỉ: Số A L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Võ H, sinh năm 1976 và chị Huỳnh Thị N1, sinh năm 1983 Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
Đại diện trường P: Ông Hồ A, Chức vụ: Phó Bí thư Đoàn trường THPT P, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/5/2022, Võ T (không có giấy phép lái xe theo quy định) trực tiếp điều khiển xe mô tô biển số 75K1- ABCD(của chị Huỳnh Thị N1), chở phía sau cháu Võ L (là em ruột của Võ T) lưu thông theo hướng Huế - Đà Nẵng. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, xe mô tô do T điều khiển lưu thông trên đường N thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đoạn đường này cong về phía bên trái theo hướng Huế - Đà Nẵng, đi qua khu vực ít nhà dân sinh sống ven đường. Mặt đường rải nhựa phẳng, rộng 12,7 mét. Rãnh thoát nước nằm giữa mép đường bên phải theo hướng Huế - Đà Nẵng và bo vỉa hè rộng 0,2 mét. Do Võ T điều khiển xe mô tô 75K1- ABCDđi không đúng phần đường quy định, nên đã tông vào trụ điện chiếu sáng bên phải, gây tai nạn. Hậu quả: cháu L bị thương, cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa quận L, thành phố Đà Nẵng, sau đó chết; xe ô tô biển số 75K1- ABCD bị hư hỏng.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường (hướng Đà Nẵng - Huế) xác định:
Chọn điểm đầu bên trái trạm trung chuyển phía Bắc hầm H làm mốc khám nghiệm. Chọn mép đường bên phải theo hướng Huế - Đà Nẵng làm chuẩn.
Cách điểm đầu bên trái Trạm trung chuyển phía Bắc hầm Hải Vân 32,5 mét về phía Huế, trên vỉa hè, trên mặt đường N, phát hiện dãy vết cày xước mặt đường không thẳng hàng, không liên tục, chiều hướng H - Đà Nẵng, kích thước (17,5 x 0,01) mét. Điểm đầu dấu vết cày xước cách mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm là 0,2 mét (mặt ngoài bo vỉa hè). Điểm kết thúc là vị trí xe mô tô 75K1-ABCD(Vị trí số 1).
Cách điểm đầu vị trí số (1) 14,3 mét về phía Đà Nẵng, trên vỉa hè, ngoài mép đường bên phải phát hiện đám mãnh vỡ nhựa màu đen – trắng, bê tông vỡ, đôi dép màu đen – trắng- xanh, đám chất dịch màu nâu đỏ, kích thước (1,5 x 1,1) mét. Mặt trước trụ đèn chiếu sáng (theo hướng Huế - Đà Nẵng) bị trầy xước kim loại và vỡ bê tông chân đế, kích thước (0,25 x 0,15) mét. Trung tâm đám mãnh vỡ, đôi dép, đám chất dịch màu nâu đỏ, cách mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm là 1,1 mét (vị trí số 2).
Cách trung tâm vị trí số (2) về phía vỉa hè, trên nền vỉa hè, bên ngoài mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm, phát hiện đám chất dịch màu nâu đỏ đã khô, không rõ hình, kích thước (0,4 x 0,3) mét. Trung tâm đám chất dịch màu nâu đỏ, cách mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm là 2,1 mét (Vị trí số 3).
Cách điểm đầu vị trí số (1) 17,5 mét và cách trung tâm vị trí số (2) 4,4 mét về phái Đà Nẵng, trên mặt đường N vị trí trục bánh sau xe mô tô 75K1-370.58. Xe mô tô 75K1- ABCDđang trong trạng thái ngã nghiêng sang phải, đầu xe quay về hướng Đà Nẵng, đuôi xe quay về hướng Huế. Trục bánh trước và trục bánh sau lần lượt cách mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm là 1,9 mét và 2,0 mét.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông xác định:
Xe mô tô 75K1-370.58: Phần nhựa đầu xe vỡ hỏng hoàn toàn; Hệ thống đèn chiếu sáng, đèn báo rẽ phía trước vỡ hỏng hoàn toàn; T2 kim loại gắn kính chiếu hậu bên phải bị mài mòn kim loại mặt trước và cong vênh; T3 cầm lái bên phải bị mài mòn kim loại mặt ngoài; M chăn bùn bên phải bị mài mòn, vỡ hỏng mặt ngoài; Phần nhựa bảo vệ phuộc nhún phía trước, bên phải bị mài mòn mặt ngoài phía dưới; Mặt phải của lốp trước bị mài mòn cao su; Chân phanh bị mài mòn mặt ngoài và mặt dưới; Gác chân trước bên phải bị mài mòn cao su, kim loại mặt ngoài và mặt dưới; Gác chân sau bên phải bị mài mòn kim loại mặt ngoài; Bộ phận giảm tham bị mài mòn kim loại mặt ngoài, ở điểm cuối; T2 bảo vệ yên ngồi phía sau bị mài mòn bên phải; Mặt phải lốp sau bị mài mòn cao su, bám dính chất màu xám; Man chăn bùn bên trái nứt vỡ; Hệ thống điều khiển của xe bị cong vênh khỏi vị trí nguyên thủy.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 113-22/TT ngày 13/5/2022 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y Sở Y tế tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của cháu Võ L như sau: Đa chấn thương nặng do tai nạn giao thông.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 43/HĐĐG-TS ngày 25/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận, xác định giá trị thiệt hại của xe môtô hiệu HONDA biển số 75K1- ABCDlà: 2.840.000 đồng (Hai triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện P đã tạm giữ: 01 (một) xe ô tô biển số 75K1-370.58, bị hư hỏng do tai nạn.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường và có đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKS-HTh ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Võ T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Võ T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, về dân sự không có yêu cầu bồi thường, đây là phiên tòa lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
Đã có cơ sở khẳng định: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 08/5/2022, Võ T (không có giấy phép lái xe theo quy định) trực tiếp điều khiển xe mô tô biển số 75K1- ABCDchở phía sau cháu Võ L (em ruột của Võ T), lưu thông theo hướng Huế đi Đà Nẵng. Khi đến khu vực đường N địa phận thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tông vào trụ điện chiếu sáng bên phải đường (theo hướng Huế đi Đà Nẵng), gây tai nạn làm chết 01 người (cháu L) và gây thiệt hại về tài sản trị giá là 2.840.000 đồng (Hai triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
Vụ tai nạn xảy ra do Võ T khi điều khiển xe mô tô biển số 75K1- ABCDđi không đúng phần đường theo quy định, đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ. Ngoài ra, T điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo đúng quy định đã vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.
Hành vi nêu trên của bị cáo Võ T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội và an toàn giao thông trên địa bàn. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:
Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo khi phạm tội là người dưới 18 tuổi nên cần áp dụng thêm Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự để xem xét đối với bị cáo.
Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Võ T là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, mục đích của việc xử phạt phải đảm bảo giáo dục, giúp đỡ, hỗ trợ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, để giúp người chưa thành niên trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo Võ T có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật và phù hợp. Bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe, giấy tờ liên quan cho các chủ sở hữu. Tại phiên tòa không có ai yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Võ T cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Võ T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND huyện Phú Lộc; - Công an huyện Phú Lộc; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Chi cục THADS huyện Phú Lộc; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Thảo |