vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang Tuyên án 01/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!MÈO!VẠC!
TỈNH!HÀ!GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày 01-6-2023
!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!MÈO!VẠC,!TỈNH!HÀ!GIANG!

! - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Thúy Yên

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Nguyễn Thị Chanh

Ông: Phàn Minh Pú

- Thư ký phiên tòa: Ông: Mua Mí Chứ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông: Trần Ngọc Ánh, Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 6 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo: !

Giàng!Mí!L (tên gọi khác: không có), sinh năm 1998, tại huyện M, tỉnh H ; nơi cư trú: tổ 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: HMông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng Mí L1, sinh năm 1975 và bà Giàng Thị M1, sinh năm 1976; vợ: không; con: không; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 01/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Có mặt. !

Những người làm chứng: Giàng Mí S, Lý Ngọc H1, Lê Văn B, vắng mặt.

Người phiên dịch: Đào Thị H1, sinh năm 19...; địa chỉ: thị trấn M, huyện M, tỉnh H, có mặt.

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 45 phút ngày 01/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, tiếp nhận tố giác về tội phạm qua điện thoại của một công dân (Vì lý do cá nhân nên người này không cung cấp họ tên, tuổi, địa chỉ) về việc: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01/12/2022, phát hiện Giàng Mí L có nhiều biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy tại tổ 2, thị trấn Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

Ngay sau khi tiếp nhận tố giác, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc đã phối hợp với Công an thị trấn Mèo Vạc thành lập tổ công tác tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin nêu trên. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, tổ công tác phát hiện Giàng Mí L đang đi bộ từ nhà L ra đoạn đường ở trước cửa nhà (cách nhà L khoảng 20m). Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện tại túi quần bò phía bên trái mà L đang mặc có 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng (trên bề mặt gói giấy nhỏ này có dòng kẻ màu xanh), bên trong gói giấy này chứa chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy heroin), tiến hành kiểm tra xung quanh khu vực L đứng phát hiện dưới rãnh nước (không có nước) ở ngay bên cạnh đường, cách vị trí L đứng khoảng 50cm có 02 (hai) gói giấy nhỏ do khi bị tổ công tác kiểm tra, L đã nhanh chóng vứt 02 (hai) gói xuống rãnh nước (02 gói giấy nhỏ này có đặc điểm tương tự với gói giấy màu trắng đã phát hiện, tạm giữ bên trong túi quần bò của L), bên trong 02 (hai) gói giấy nhỏ này đều chứa chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy heroin). Ngoài số tang vật nêu trên tổ công tác còn phát hiện, tạm giữ: Tại túi quần bên trái của L số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng); tại túi quần bên phải của L số tiền 4.620.000 đồng (bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) và một chiếc điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng; vỏ màu trắng xám; phía dưới góc bên trái màn hình có vết rạn, nứt; mặt sau có chữ Iphone. L khai nhận toàn bộ 03 (ba) gói giấy nhỏ có đặc điểm nêu trên đều là của L, bên trong các gói giấy có chứa chất bột đều là ma túy heroin.

Ngày 01/12/2022 cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Giàng Mí L, phát hiện thu giữ 02 (hai) gói giấy màu trắng, trên mặt giấy có chữ màu đen, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy heroin); 01 (một) chiếc kéo có chiều dài 20cm, phần tay cầm bằng nhựa màu vàng và 03 (ba) mảnh giấy nhỏ, một mặt của những mảnh giấy này có các dòng chữ màu đen ở trên giường ngủ của L. L khai toàn bộ số ma túy nêu trên là do L mua của Giàng Mí S (sinh năm: 1981, trú tại tổ 3, thị trấn M, huyện M). Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Giàng Mí S tại tổ 3, thị trấn M, huyện M; Cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến vụ việc.

Tại cơ quan điều tra, Giàng Mí L khai nhận hành vi như sau:

Do bản thân là người nghiện, có nhu cầu sử dụng ma túy Heroine nên vào sáng ngày 27/11/2022, Lê Văn B (L và B quen biết nhau từ trước) sử dụng số điện thoại của B, số 0846.807.782 gọi điện đến số điện thoại 0395.708.576 của L để hỏi về việc L có biết ai bán ma túy không thì L trả lời:“Đợi em đi uống thuốc Methadone xong em hỏi cho, có gì em gọi lại sau” rồi tắt máy. Ngay sau đó, L một mình điều khiển xe máy đi đến Trung tâm Y tế huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang để uống thuốc Methadone (Llà người nghiện ma túy và đang tham gia cai nghiện bằng hình thức uống thuốc Methadone) thì gặp Giàng Mí S (S cũng đang tham gia uống thuốc Methadone). Do có quan hệ anh em họ hàng với nhau (L gọi S là chú) nên L hỏi S về việc có biết ai bán ma túy không thì S trả lời: “Nếu có người hỏi mua thì đến nhà chú để lấy”. Sau đó, L và S không nói gì nữa.

Đến buổi trưa cùng ngày, L một mình đi bộ đến nhà S (cách nhà L khoảng 500 mét) với mục đích mua ma túy heroin. Đến nơi, L thấy S đang ngồi một mình ở gian bếp nên L nói: “Có người hỏi mua, lấy cho cháu ba tép” thì S đồng ý. Sau đó, S đứng dậy đi ra ngoài (L không biết S đi lấy ma túy heroin ở đâu), khoảng 15 phút sau S quay lại và đưa cho L 03 (ba) gói giấy nhỏ (tép) màu trắng, bên trong chứa ma túy heroin, đồng thời nói với L mỗi tép là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Do chưa có tiền trả nên L nói: “Khi nào cháu bán được thì cháu trả tiền sau”, S đồng ý, sau đó L đi về. Mặc dù đang tham gia uống thuốc Methadone nhưng L vẫn sử dụng ma túy nên sau khi mua được ma túy về đến nhà, L đã sử dụng chiếc kéo (dài khoảng 20cm, tay cầm bằng nhựa màu vàng) cắt giấy vở ô ly học sinh (chiếc kéo và giấy vở ô ly đã có sẵn ở nhà Lềnh từ trước) thành các mảnh nhỏ khác nhau với mục đích chia nhỏ các gói ma túy heroin ra thành nhiều phần khác nhau. Sau đó, L lấy 03 (ba) tép ma túy heroin đã mua của S ra rồi lần lượt mỗi tép L bớt ra một ít để sử dụng, số còn lại L dùng các mảnh giấy nhỏ vừa cắt gói thành ba tép như lúc đầu để bán, sau khi gói xong L gọi điện thoại cho B thì B đồng ý mua 01 (một) tép, sau đó hai người hẹn gặp nhau ở khu vực bãi đất trống (cách nhà L khoảng 50m). Khoảng 10 phút sau, khi đến địa điểm đã hẹn thì B gọi điện cho L, L liền mang theo 01 (một) tép ma túy heroin đi bộ đến gặp B. Gặp nhau, sau khi quan sát xung quanh không có ai, L đưa cho B 01 (một) tép ma túy heroin đồng thời nói giá là: 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), B cầm tép ma túy rồi lấy tiền trong túi ra đưa cho L, sau đó L đi về, còn B đi đâu L không biết.

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Lý Ngọc H1 sử dụng số điện thoại 0347.969.191 của H1 gọi điện để hỏi L mua 01 (một) tép ma túy heroin, do có quen biết với nhau khi cùng tham gia uống thuốc Methadone tại Trung tâm Y tế huyện Mèo Vạc nên L đồng ý. Sau đó, L hẹn H1 mua bán ma túy tại nơi mà trước đó L đã bán ma túy cho B. khoảng 10 phút sau, khi đến vị trí như đã hẹn thì H1 gọi điện và thông báo cho L biết mình đã đến nơi. Ngay sau đó, L mang theo một tép ma túy heroin rồi đi bộ từ nhà đến nơi đã hẹn với H1. Khi gặp nhau, quan sát xung quanh không có ai nên L lấy tép ma túy ở trong túi quần ra đưa cho H1 rồi nói 01 (một) tép là: 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), H1 đồng ý và cầm tép ma túy rồi đưa tiền cho L. Sau đó, L đi về, còn H1 đi đâu thì L không biết.

Đến sáng ngày 29/11/2022, H1 tiếp tục gọi điện hỏi L để mua ma túy về sử dụng. Do không đủ ma túy để bán cho H1 nên ngay sau đó L đi bộ từ nhà đến nhà của S để mua 03 (ba) tép ma túy. Lần này, L trả cho S số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền mà trước đó L đã lấy 03 (ba) tép ma túy (ngày 27/11/2022). Sau khi về nhà, L lấy 03 (ba) tép ma túy heroin đã mua của S ra rồi lần lượt mỗi tép L bớt ra một ít để sử dụng, số còn lại L dùng các mảnh giấy nhỏ đã cắt trước đó gói thành ba tép như lúc đầu để bán. Cùng ngày, L đã bán cho H1 01 (một) tép ma túy với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) tại khu bãi đất trống ở gần nhà L (vị trí đã bán ma túy cho H1 trước đó). Ngày 30/11/2022, L tiếp tục bán cho B 01 (một) tép ma túy với giá 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) cũng tại khu bãi đất trống ở gần nhà L (vị trí đã bán ma túy cho H1 trước đó).

Sáng ngày 01/12/2022, B gọi điện để hỏi L mua 02 (hai) tép ma túy với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng) nên khoảng 12 giờ cùng ngày, L tiếp tục đi bộ sang nhà S để hỏi S mua 04 (bốn) tép ma túy. Tại đây, S tiếp tục bảo L đợi ở trong nhà đợi rồi S đi ra ngoài, (L không biết S đi lấy ma túy ở đâu) được khoảng 10 phút sau thì S quay lại đưa cho L 04 (bốn) tép ma túy. Sau đó, L trả cho S 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) là số tiền mà L mua ma túy của S vào ngày 29/11/2022. Đối với số ma túy này, ngay sau khi mua về thì L bán cho B 02 (hai) tép với giá 950.000 đồng (chín trăm năm mươi nghìn đồng). Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, H1 tiếp tục gọi điện cho L để hỏi mua 02 (hai) tép ma túy với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng) và hẹn gặp nhau ở vị trí bãi đất trống trước đó. Được một lúc sau, L mang theo 03 (ba) tép ma túy để ở trong túi quần bên trái rồi đến địa điểm như đã hẹn để gặp H1. Khi L vừa đi bộ ra khỏi nhà được khoảng 20 mét thì bị tổ công tác Công an huyện Mèo Vạc phát hiện kiểm tra. Lúc này, L nhanh chóng vứt được hai tép ma túy xuống rãnh nước cách vị trí của L khoảng 50cm, đối với tép ma túy còn lại thì L không kịp vứt. Sau đó, L bị tổ công tác Công an huyện Mèo Vạc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ 03 (ba) tép ma túy heroin; số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) tại túi quần bên trái; số tiền 4.620.000 đồng (bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) và một chiếc điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu trắng xám, phía dưới góc bên trái màn hình có vết rạn, nứt, mặt sau có chữ Iphone tại túi quần bên phải.

*!Vật!chứng!đã!thu!giữ:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang đã tiến hành thu giữ tài liệu, đồ vật sau:

+ Phát hiện, thu giữ khi bắt quả tang:

- 03 (ba) gói giấy nhỏ màu trắng (trên bề mặt các gói giấy nhỏ này đều có dòng kẻ màu xanh), bên trong 03 (ba) gói giấy nhỏ này đều chứa chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy Heroin).

- 01 (một) chiếc điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu trắng xám, phía dưới góc bên trái màn hình có vết rạn, nứt, mặt sau có chữ Iphone. Điện thoại cũ đã qua sử dụng.

- Số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng), trong đó có 02 (hai) tờ tiền loại mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng); 19 (mười chín) tờ tiền loại mệnh giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng); 02 (hai) tờ tiền loại mệnh giá 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) và 01 (một) tờ tiền loại mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng).

- Số tiền 4.620.000 đồng (bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó có 07 (bảy) tờ tiền loại mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng); 05 (năm) tờ tiền loại mệnh giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng); 02 (hai) tờ tiền loại mệnh giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) và 02 (hai) tờ tiền loại mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng).

+ Phát hiện, thu giữ khi khám xét nhà Giàng Mí L:

-!02 (hai) gói giấy màu trắng, trên mặt giấy có chữ màu đen, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy Heroin).

- 01 (một) chiếc kéo có chiều dài 20cm, phần tay cầm bằng nhựa màu vàng.

- 01 (một) mảnh giấy có kích thước (5 x 4,5) cm, một mặt giấy có các dòng chữ màu đen.

- 01 (một) mảnh giấy có kích thước (4,8 x 4,8) cm, một mặt giấy có các dòng chữ màu đen.

- 01 (một) mảnh giấy có kích thước (10 x 10) cm, một mặt giấy có các dòng chữ màu đen.

+ Thu giữ của Lê Văn B: 01 (một) chiếc điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu trắng sữa, nhãn hiệu Samsung, điện thoại đã qua sử dụng, không tiến hành kiểm tra tình trạng hoạt động của máy.

Ngày 02/12/2022, tiến hành mở niêm phong, cân tịnh khối lượng:

+ 01 (một) phong bì màu trắng “Tang vật phát hiện tạm giữ trên người của Giàng Mí L ngày 01/12/2022”, bên trong phong bì có 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng, kích thước (2,5 x 1,8)cm, bên tróng giấy nhỏ này chứa chất màu trắng ngà, dạng cục và dạng bột (nghi là ma túy heroin). Qua cân tịnh có khối lượng là 0,390g (không phẩy ba trăm chín mươi gam). Ký hiệu A1.

+ 01 (một) phong bì màu trắng “Tang vật phát hiện, tạm giữ dưới rãnh mương ngày 01/12/2022”, bên trong phong bì có 02 (hai) gói giấy nhỏ màu trắng đều có kích thước (2,5 x 1,8)cm, bên trong hai gói giấy nhỏ này đều chứa chất màu trắng ngà, dạng cục và dạng bột (nghi là ma túy heroin). Qua cân tịnh có tổng khối lượng là 0,710g (không phẩy bảy trăm mười gam), trong đó:

- Gói thứ nhất: 0,339g (không phẩy ba trăm ba mươi chín gam). Ký hiệu!A2!

- Gói thứ hai: 0,371g (không phẩy ba trăm bảy mươi mốt gam). Ký hiệu A3

+ 01 (một) phong bì màu trắng “phát hiện khi khám xét ngày 01/12/2022”, bên trong phong bì có 02 (hai) gói giấy nhỏ màu trắng đều có kích thước (2,6 x 1,5)cm, bên trong hai gói giấy nhỏ này đều chứa chất màu trắng ngà, dạng cục và dạng bột (nghi là ma túy heroin). Qua cân tịnh có tổng khối lượng là 0,364g (không phẩy ba trăm sáu mươi bốn gam), trong đó:

- Gói thứ nhất: 0,123g (không phẩy một trăm hai mươi ba gam). Ký hiệu A4.

- Gói thứ hai: 0,241g (không phẩy hai trăm bốn mươi mốt gam). Ký hiệu A5.

Tiến hành cân tịnh số chất màu trắng ngà, dạng cục và dạng bột được gói trong 05 (năm) gói nhỏ sau khi mở niêm phong được ký hiệu từ A1 đến A5 có tổng khối lượng là: 1,464!gam (một phẩy bốn trăm sáu mươi bốn gam).

Tại bản kết luận giám định số: 423/KL-KTHS ngày 08/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận: Các mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5 đều là ma túy, loại Heroin, có tổng khối lượng là 1,464g (Một phẩy bốn sáu bốn gam). Heroine nằm trong danh mục I, mục IA, số thứ tự 9, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ

Kèm theo kết luận giám định: Không

- Hoàn trả lại đối tượng giám định: Hoàn trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang mẫu vật còn lại sau giám định:

+ Mẫu ký hiệu A1 có khối lượng 0,340g (không phẩy ba trăm bốn mươi gam);

+ Mẫu ký hiệu A2 có khối lượng 0,294 (không phẩy hai trăm chín mươi tư gam);

+ Mẫu ký hiệu A3 có khối lượng 0,318g (không phẩy ba trăm mười tám gam);

+ Mẫu ký hiệu A4 có khối lượng 0,093 (không phẩy không trăm chín mươi ba gam);

+ Mẫu ký hiệu A5 có khối lượng 0,194g (không phẩy một trăm chín mươi bốn gam).

Tại văn bản trả lời số 495/HGG-Ctr ngày 07/02/2023 của Tập đoàn Công nghiệp viễn thông Quân đội Viettel Hà Giang: Thông tin về chủ thuê bao của số thuê bao số 0395.708.576, chủ thuê bao: HẦU MÍ S1, sinh ngày 05/11/1990; địa chỉ: Mèo Vạc, Mèo Vạc, Hà Giang (kèm bảng kê chi tiết cuộc gọi).

Đối chiếu bản kê chi tiết cuộc gọi đi, đến giữa thuê bao số 0395.708.576 (Giàng Mí L sử dụng) với thuê bao số 0846.807.782 (Lê Văn B) và thuê bao số 0347.969.191 (Lý Ngọc H1 sử dụng) trong thời gian từ ngày 27/11 đến 01/12/2022 hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ.

Đối với số thuê bao số 0395.708.576 mà Giàng Mí L sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán trái phép chất ma túy với Lý Ngọc H1 và Lê Văn B, L khai nhận: Chủ thuê bao của số điện thoại 0395.708.576, mang tên Hầu Mí S1 do L sử dụng là vì vào cuối 2021, L mua sim có số điện thoại trên của Hầu Mí S1 với giá 100.000đ, do thời điểm đó L chưa có Căn cước công dân để đi đăng ký sim đã mua nên L đã nhờ Hầu Mí S1 mang căn cước công dân của S1 để đi đăng ký số thuê bao trên, sau khi mua sim L chưa đi đăng ký sim chính chủ và sử dụng sim trên từ lúc mua về đến khi bị bắt quả tang vào ngày 01/12/2022.

Tại bản kết luận giám định số 30/KL-KTHS ngày 18/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận: 24 (hai mươi tư) tờ tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật.

Đối với Lý Ngọc H1: H1 khai nhận mình bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 8/2018 (trong thời gian Hải đi lao động tự do tại Trung Quốc). Sau khi trở về địa phương, mỗi khi có nhu cầu sử dụng ma túy H1 thường tìm người để liên hệ mua. Đến tháng 8/2020, Lý Ngọc H1 đăng ký và tham gia điều trị nghiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm Y tế huyện Mèo Vạc. Đến cuối tháng 11/2022, do có cảm giác muốn sử dụng ma túy, không kiểm chế được bản thân và biết được Giàng Mí L bán ma túy heroin nên các ngày 27, 29/11/2022 H1 đã liên hệ với L để hỏi mua ma túy heroin, mỗi lần H1 mua một tép với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Đến ngày 01/12/2022, H1 tiếp tục liên hệ với L để mua hai tép ma túy heroin với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng). Sau đó, hai người hẹn gặp nhau tại khu vực bãi đất trống cách nhà L khoảng 50m. Sau khi L đi từ nhà ra vị trí đã hẹn để bán ma túy cho H1 thì bị tổ công tác Công an huyện Mèo Vạc phát hiện bắt giữ nên H1 đi về nhà. Các lần mua ma túy với Giàng Mí L thì H đều mua về để sử dụng ngoài ra không có mục đích gì khác.

Đối với Lê Văn B: B khai nhận bản thân là người nghiện ma túy, việc B mua ma túy của L chỉ nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, chứ không nhằm mục đính gì khác. B và L đã có quan hệ quen biết từ trước nên B biết L là người nghiện ma túy và có ma túy để bán, nên B đã gọi điện cho L để hỏi mua ma túy và được L đồng ý bán. Lần thứ nhất, B mua ma túy của L vào ngày 27/11/2022 một tép ma túy heroin với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); lần thứ hai vào ngày 30/11/2022, B mua của L nửa tép ma túy với giá 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng); lần thứ ba vào trưa ngày 01/12/2022 B mua của L hai tép ma túy với giá là 950.000đ (Chín trăm năm mươi nghìn đồng). Các lần mua bán ma túy giữa B và L đều diễn ra tại khu vực bãi đất trống cách nhà L khoảng 50m.

Ngày 03 và 04/04/2023, tiến hành xác định hiện trường để xác định lại vị trí, địa điểm nơi bị cáo L đã bán ma túy cho Lê Văn B và Lý Ngọc H1. Kết quả xác định hiện trường hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ.

Ngày 01/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc đã phối hợp với Trung tâm Y tế huyện Mèo Vạc tiến hành test ma túy đối với Giàng Mí L, Lý Ngọc H1 và Lê Văn B. Kết quả tại thời điểm kiểm tra, xét nghiệm nước tiểu của Giàng Mí L, Lý Ngọc H1 và Lê Văn B cho kết quả: dương tính với chất ma túy Morphine (MOP). !

*!Về!việc!xử!lý!vật!chứng!tài!sản,!đồ!vật,!tài!liệu:

Căn cứ kết quả điều tra, xác minh xác định số tiền 4.620.000đ (Bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) là số tiền bị cáo Giàng Mí L vay tại cửa hàng thế giới di động huyện Mèo Vạc, không phải là số tiền do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam. Ngày 21/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc ra Quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả số tiền 4.620.000đ (Bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) cho anh Giàng Mí T là anh trai ruột của Giàng Mí L.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Giàng Mí L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. !

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSMV ngày 04 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc truy tố bị cáo Giàng Mí L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Giàng Mí L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Giàng Mí L mức án từ 07 (bẩy) năm đến 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ ngày 01/12/2022.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý như sau:

-!Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 chiếc kéo, 03 mảnh giấy thu giữ của bị cáo!

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với: số tiền 1.200.000đ bị cáo bán ma túy, chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo

- Trả lại cho Lê Văn B 01 chiếc điện thoại di động.

Án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Giàng Mí L.

Tại phiên toà, bị cáo Giàng Mí L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Giàng Mí Lềnh hối hận, xin HĐXX giảm nhẹ.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Giàng Mí L tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản kiểm tra, xét nghiệm tình trạng ma túy; biên bản mở niêm phong, cân tịnh khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo; kết luận giám định số: 423/KL-KTHS ngày 08/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang; kết luận giám định số 30/KL-KTHS ngày 18/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Từ ngày 27/11/2022 đến ngày 01/12/2022, tại tổ 2 thị trấn Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, Giàng Mí L đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy (heroin) 06 lần, cụ thể: 03 (ba) lần cho Lê Văn B 04 tép ma túy heroin với số tiền 1.700.000đ (một triệu bảy trăm nghìn đồng) và 03 lần cho Lý Ngọc H1 trong đó 02 lần bị cáo đã bán 02 tép ma túy heroin với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), lần thứ ba khi đang trên đường đi giao ma túy cho Lý Ngọc H1 thì bị cáo bị tổ công tác Công an huyện Mèo Vạc bắt người phạm tội quả tang. Số ma túy heroin còn lại L bị thu giữ khi bị bắt người phạm tội quả tang và thu giữ khi khám xét tại nhà của Giàng Mí L có tổng khối lượng ma túy là: 1,464g (một phẩy bốn trăm sáu mươi bốn gam). Như vậy đủ căn cứ xác định bị cáo Giàng Mí L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có khung hình phạt bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

[3] Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Giàng Mí L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Chất ma tuý nói chung và heroine nói riêng là chất gây nghiện nghiêm trọng, không những huỷ hoại sức khoẻ của người sử dụng, hủy hoại đạo đức của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo Giàng Mí L hoàn toàn nhận thức được tác hại của chất ma túy đối với bản thân, gia đình, xã hội và hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp pháp luật mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Bị cáo là thanh niên trẻ có sức khỏe, nhưng không chịu khó làm ăn, xây dựng lối sống lành mạnh mà lại sa vào tệ nạn ma túy. Cần xét xử bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, cũng như để răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Giàng Mí L được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).

[7] Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Cần ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[9] Về vật chứng: Những vật chứng thu giữ là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; vật chứng còn giá trị sử dụng tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định của điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS.

[10] Đối với nguồn gốc số ma túy heroin mà L đã bán cho Lý Ngọc H1, Lê Văn B, L khai nhận toàn bộ số ma túy nêu trên là L mua của Giàng Mí S, quá trình L mua bán ma túy với S chỉ có hai người, không có ai khác biết, nhìn thấy việc này. Giàng Mí S khai nhận: Bản thân mình là người nghiện ma túy Heroine từ năm 2010, đến năm 2018 S đã tham gia cai nghiện bằng hình thức uống thuốc Methadone tại Trung tâm Y tế huyện Mèo Vạc đến nay. S không biết nguồn gốc, không được mua bán ma túy heroin với Giàng Mí L. Tiến hành đối chất giữa bị cáo Giàng Mí L và Giàng Mí S, S vẫn khẳng định không được bán ma túy heroin cho Giàng Mí L. Căn cứ tài liệu thu thập được có trong hồ sơ không đủ cơ sở để xác định Giàng Mí S tham gia vào việc thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để tiến hành điều tra, xử lý đối với Giàng Mí S, HĐXX không đề cập.

[11] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Giàng Mí L, Lý Ngọc H1 và Lê Văn B là hành vi vi phạm hành chính, ngày 23/02/2023 Công an huyện Mèo Vạc đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lý Ngọc H1 và Lê Văn B bằng hình thức phạt tiền, mức phạt: 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng); xử phạt vi phạm hành chính đối với Giàng Mí L bằng hình thức phạt cảnh cáo (do L đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, không có điều kiện để nộp phạt) là phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí HSST cho bị cáo. Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:

1.!Tội danh:!!

Tuyên bố: bị cáo Giàng Mí L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Giàng Mí L 07 (bẩy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ (ngày 01/12/2022).

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì màu trắng đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi chữ "Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5", mặt sau phong bì trên các mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang.

+ 01 (một) phong bì màu trắng đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi chữ "Vỏ gói và phong bì niêm phong cũ", mặt sau phong bì trên các mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

+ 01 (một) phong bì màu trắng đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi chữ "Chiếc kéo + Giấy phát hiện khi khám xét ngày 01/12/2022", mặt sau phong bì trên các mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của UBND thị trấn Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

+ 01 (một) phong bì màu trắng đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi chữ "Chiếc điện thoại di động phát hiện, tạm giữ trên người của Giàng Mí L ngày 01/12/2022", mặt sau phong bì trên các mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Công an thị trấn Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

+ 01 (một) phong bì màu trắng đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi chữ "Số tiền 1.200.000 đ phát hiện, tạm giữ tại túi quần bên trái của Giàng Mí L ngày 01/12/2022", mặt sau phong bì trên các mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

- Trả lại cho Lê Văn B (sinh năm 19...; địa chỉ: tổ 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh H):

+ 01 (một) phong bì màu trắng đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi chữ "Chiếc điện thoại Samsung do anh Lê Văn B giao nộp ngày 01/12/2022", mặt sau phong bì trên các mép dán có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

(Đặc điểm chi tiết của các vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Mèo Vạc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mèo Vạc ngày 04/4/2023).

3. Về án phí: Áp dụng điều 135, 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 điều 12; 14 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Mí L.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 01/6/2023)./.

!

!

Cỡ chữ