vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 24/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo: Phạm Văn H 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2023 Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Phạm Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:07/2023/HS-ST
Ngày: 24/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lự

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Xa Tiến Đắc

- Bà Trần Kiều Oanh

- Thư ký phiên tòa: ông Bùi Ngọc Tùng Trúc – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc tham gia phiên tòa:

Ông Triệu Phúc Hiệp - Kiểm sát viên Trung cấp, VKSND huyện Đà Bắc.

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn H; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh

ngày 10 tháng 12 năm 1993 tại xã HL, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình;

HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm M, xã HL, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình;

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Trình độ học vấn: 11/12

Con ông Phạm Duy H1, sinh năm 1963 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1964

Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình

Có Vợ là Hoàng Thị Hải Y, sinh năm 1993 và có 01 con trai sinh năm 2018;

Hiện đều trú tại xóm M, xã HL, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.

Tiền án: Không

Tiền sự: 01: Ngày 31/10/2022, Công an huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Đà Bắc. Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo:

Bà Đinh Thị Quyến – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà

nước tỉnh Hòa Bình. Có mặt;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Ông Phạm Duy H1, sinh năm 1963, trú tại: xóm M, xã HL, huyện Đ, tỉnh Hòa

Bình. Có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn H - SN 10/12/1993, HKTT tại xóm M, xã HL, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình là lao động tự do ở khu vực thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội và có tiền sử là người thường xuyên phải sử dụng chất ma túy.

Vào khoảng 17 giờ ngày 13/01/2023, H đi bộ từ khu trọ ra ngã tư thị trấn Xuân Mai để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. H có gặp người đàn ông làm nghề xe ôm mà trước đó H đã có lần nhờ mua ma túy để sử dụng. H đưa 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) cho người đàn ông đó và nói "Lấy hộ em 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng)". Người đàn ông đó đồng ý cầm tiền và điều khiển xe mô tô đi. Khoảng 5 đến 10 phút sau thì người đàn ông đó quay lại đưa cho H 01 gói bọc nilong, H biết trong đó là chất ma túy nên đã cầm và cất vào trong túi áo khoác phía trước bên trái của mình và đi bộ về phòng trọ. Sau đó, H điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại xe Exciter màu xanh trắng BKS 28B1 - 034.18 để đi về nhà tại xóm M, xã HL, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.

Đến khoảng 12 giờ trưa ngày 14/01/2023, H lấy gói ma túy từ trong túi áo khoác ra lấy một phần nhỏ để sử dụng bằng hình thức chích trong nhà vệ sinh của gia đình, sau đó H chia số ma túy ra thành 02 gói nhỏ, gói lại bằng tờ giấy lịch của gia đình rồi cất 02 gói giấy chứa ma túy vào túi áo khoác.

Đến trưa ngày 15/01/2023, H tiếp tục lấy 02 gói giấy đó ra để sử dụng rồi gói lại như cũ và cất vào túi áo khoác phía trước bên trái đang mặc trên người. Khoảng 15 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô BKS 28B1 - 034.18 đi từ nhà ở xóm M, xã HL, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình xuống thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình để đón vợ con. Khi đi đến đoạn đường thuộc tiểu khu Công, thị trấn Đà Bắc, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình thì bị tổ công tác Công an huyện Đà Bắc kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ số ma túy H cất giấu bên trong túi áo khoác phía trước bên trái mà H đang mặc.

Tại Bản kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 18/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: “Chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M1, M2 trong phong bì niêm phong, một mặt có ghi Tang vật vụ tàng trữ chất ma túy ngày 15/01/2023 tại tiểu khu Công, thị trấn Đà Bắc, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình gửi giám định có tổng khối lượng 0,44 gram (Không phẩy bốn bốn gam) là ma túy, loại Heroin”.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS-ĐB ngày 24/4/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về vật chứng:

- Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

- Đối với các đồ vật đã trả lại không đề cập.

Trong phần tranh tụng, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và không có lời tự bào chữa.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn H đồng ý với Cáo trạng của Viện kiểm sát, không có lời bào chữa cho các bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt cho bị cáo như sau:

Đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã nhận lại tài sản, không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đà Bắc. Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Bộ luật tố tụng hình sự và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai của bị cáo Phạm Văn H tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, như vậy có đủ căn cứ để chứng minh rằng:

Do bị cáo Phạm Văn H có thói quen sử dụng chất ma túy, nên ngày 13/01/2023 Phạm Văn H đã có hành vi tìm mua và tàng trữ trái phép 0,44g Heroine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, đến ngày 15/01/2023 thì bị phát hiện bắt quả tang tại khu vực tiểu khu Công, thị trấn Đà Bắc, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Hành vi nêu trên của Phạm Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Phạm Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, trong đó chất Heroine nằm trong danh mục I, số thứ tự 09 theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hành vi đó của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét thấy bị cáo Phạm Văn H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã có tiền sự: Ngày 31/10/2022, Công an huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo hiểu rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nH vẫn mua về, tàng trữ để sử dụng, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm minh và có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội bị cáo gây ra mới đảm bảo tác dụng giáo dục, đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm tội nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho H, cơ quan điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ nên không đề cập xử lý.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Phạm Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mặt khác, gia đình bị can là hộ cận nghèo của địa phương. Do đó, bị can Phạm Văn H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người có năng lực hành vi, hiểu biết pháp luật nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Bị cáo là người có tiền sự: Ngày 31/10/2022, Công an huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tự rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục sử dụng chất ma túy. Thể hiện tính coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó thấy rằng, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, để có thời gian giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này, Phạm Văn H khai nhận nhờ một người đàn ông không quen biết mua giúp ở khu vực ngã tư Xuân Mai, thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của người đàn ông này, nên không có căn cứ để xử lý hoặc kiến nghị cơ quan điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Heroine là chất cấm lưu hành, cấm sử dụng, cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là: 02 mẫu ma túy (M1: 0,18gr; M2: 0,17gr), loại Heroin cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định, được niêm phong trong 01 phong bì, một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ Phạm Văn H, SN 1993 – Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra ngày 15 tháng 01 năm 2023. Tại Thị trấn Đà Bắc, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.

Trong vụ án này, cơ quan điều tra có thu giữ 01 chiếc xe mô tô YAMAHA loại xe Exciter màu xanh trắng BKS 28B1 - 034.18 là phương tiện Phạm Văn H sử dụng để đi mua ma túy về sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe thuộc sở hữu của ông Phạm Duy H1- là bố đẻ của Phạm Văn H. Ông H1 giao xe cho H sử dụng là để thuận tiện cho việc đi lại làm việc, ông H1 không biết H sử dụng xe vào mục đích bất hợp pháp. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo: Phạm Văn H 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2023

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy

- 02 mẫu ma túy (M1: 0,18gr; M2: 0,17gr), loại Heroin cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định, được niêm phong trong 01 phong bì, một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ Phạm Văn H, SN 1993 – Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra ngày 15 tháng 01 năm 2023. Tại Thị trấn Đà Bắc, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.

Vật chứng cần tịch thu, tiêu hủy có trong biên bản về việc giao vật chứng, tài sản số 09/2023 ngày 27/4/2023, giữa cơ quan điều tra Công an huyện Đà Bắc với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đà Bắc hiện đang lưu tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.

3. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần của mình trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.

Cỡ chữ