- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn L - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HS-ST Ngày: 16-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Xuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Độ;
Ông Phạm Văn Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Lý Văn L, sinh năm 1996 tại Sóc Trăng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm 5, phường 8, thành phố T, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn S và bà Trương Thị Huế A (đã chết); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2017/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Vĩnh Long xử phạt Lý Văn L 09 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, bị cáo đã chấp hành xong ngày 10 tháng 01 năm 2018; bị bắt phạm tội quả tang ngày 02 tháng 9 năm 2022 và tạm giữ, đến ngày 11 tháng 9 năm 2022 tạm giam, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lý Văn L là đối tượng nghiện ma túy từ tháng 11 năm 2021.
Vào ngày 01 tháng 9 năm 2022, L điều khiển xe mô tô biển số 83P4-168.31 từ Khu Công nghiệp T, tỉnh Đồng Nai đến nhà đối tượng Hoàng A (chưa rõ họ tên, địa chỉ) tại thị xã T, tỉnh Bình Phước chơi. Trên đường đi, L nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đến khu vực Cầu P, Thành phố Hồ Chí Minh mua 01 gói ma túy tổng hợp với giá 1.000.000 đồng của đối tượng không rõ họ tên, địa chỉ. Sau khi mua xong, L tìm chỗ vắng người, lấy một ít ma túy đổ vào bộ dụng cụ do L mang theo sử dụng một mình. Phần ma túy còn lại, L để trong gói ni lông hàn kín và cất giấu bên trong lớp xốp của mũ bảo hiểm đội trên đầu. Sau đó, L điều khiển xe mô tô đến nhà Hoàng A. Khoảng 02 giờ 25 phút ngày 02 tháng 9 năm 2022, L đi đến đoạn đường Quốc lộ 13 thuộc ấp 1, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương thì bị Công an xã T kiểm tra hành chính phát hiện trong mũ bảo hiểm của L có 01 gói chứa chất tinh thể màu trắng. L khai nhận là ma túy dạng đá. Công an xã T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L và chuyển hồ sơ cho Công an huyện Bàu Bàng xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L thừa nhận sự việc phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo L đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về các vấn đề khác của vụ án:
Theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 02 tháng 9 năm 2022, Công an xã T đã thu giữ của bị cáo L: 01 gói ni lông hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá, 01 nỏ thủy tinh dụng cụ sử dụng ma túy đá và 01 xe mô tô biển số 83P4-168.31.
Theo Kết luận giám định số 415/KL-KTHS (MT) ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,5706 gam (bút lục 32). Hoàn lại sau giám định mẫu vật được niêm phong có khối lượng: 0,5551 gam (bút lục 31).
Đối với vật chứng là xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại BLADE, biển số: 83P4 -168.31, số máy: JA36E0771214, số khung: RLHJA3632KY006729 do bị cáo L đứng tên chủ xe. Xét bị cáo không sử dụng xe mô tô để phạm tội nên ngày 18 tháng 11 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng tiến hành trả xe mô tô này cho bị cáo L là đúng quy định pháp luật. Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong có khối lượng: 0,5551 gam, loại Methamphetamine là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 nỏ thủy tinh dụng cụ sử dụng ma túy đá không có giá trị sử dụng, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối tượng bán ma túy cho L, khi nào làm rõ nhân thân, lai lịch sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên và bị cáo L không có ý kiến gì về các vấn đề trên.
Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:
Bản Cáo trạng số 12/CT-VKS-BB ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Lý Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:
Về mức hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: 0,5551 gam ma túy loại Methamphetamine sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 nỏ thủy tinh dụng cụ sử dụng ma túy đá không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
Tại phiên tòa, bị cáo L không tranh luận gì về quyết định truy tố và luận tội của của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: trong thời gian bị tạm giam đến nay, bị cáo đã nhìn lại hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, sai với bản thân, sai với xã hội. Bị cáo rất ăn năn hối cải. Bị cáo xin hứa với Hội đồng xét xử đây là lần cuối bị cáo đứng trước vành móng ngựa, xin Hội đồng xét xử giơ cao đánh khẽ, xử nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội làm một người tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng
Đối với các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án đã được Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình tố tụng, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng này là hợp pháp.
Riêng Danh bản và Chỉ bản của bị cáo do Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng thu thập trong quá trình điều tra không có mã vạch tại nơi dán mã vạch của Danh bản và Chỉ bản là không đúng theo biểu mẫu số 186 và biểu mẫu số 187 ban hành kèm theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày 14 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự nên cần khắc phục trong quá trình điều tra, truy tố những vụ án khác sau này.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: khoảng 02 giờ 25 phút ngày 02 tháng 9 năm 2022, tại ấp 1, xã T, huyện B, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,5706 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Methamphetamine là chất ma túy quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Do bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam (0,5706 gam), Cáo trạng đã truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy và các tệ nạn xã hội khác, gây nhức nhối cho mỗi gia đình và toàn xã hội. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn cần thiết.
Để thỏa mãn nhu cầu về sử dụng trái phép chất ma túy mà bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép Methamphetamine. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, ngang nhiên đưa ma túy vào đời sống xã hội, gây khó khăn cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm của Nhà nước ta; đồng thời còn ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bị cáo.
Về nhân thân của bị cáo, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2017/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Vĩnh Long xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 10 tháng 01 năm 2018. Xét bị cáo bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm nghiêm trọng, theo quy định tại khoản 2 Điều 69 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, bị cáo không bị coi là có án tích.
Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt tù đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Hội đồng xét xử quyết định cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
Xe mô tô biển số 83P4 -168.31 đã trả lại cho bị cáo L, xét phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu và tiêu hủy vật cấm tàng trữ, lưu hành là chất ma túy Methamphetamine trong 01 bì thư niêm phong ghi số: 415/PC09, khối lượng mẫu niêm phong: M = 0,5551 gam (Methamphetamine); tịch thu và tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng là 01 nỏ thủy tinh dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Đối tượng bán ma túy cho L, khi nào làm rõ nhân thân lai lịch sẽ xử lý sau.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lý Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lý Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 9 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: tịch thu và tiêu hủy:
- Chất ma túy Methamphetamine trong 01 (một) bì thư niêm phong ghi số: 415/PC09 (là mẫu vật giám định trong QĐTC giám định số 146 ngày 02 tháng 9 năm 2022 của CQCSĐT - Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương) có dấu chữ ký, hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Lý Văn L, Đoàn Nguyễn Thiện Q, Phạm Văn L và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng KTHS - Công an tỉnh Bình Dương, khối lượng mẫu niêm phong M = 0,5551 gam (Methamphetamine).
- 01 (một) nỏ thủy tinh dụng cụ sử dụng ma túy đá.
(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng).
Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Công an huyện Bàu Bàng; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện B; - Bị cáo; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có); - Lưu: hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Xuyến |