vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo A phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, Điều 251; Điều 38; Điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo A 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 30/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứ Văn P - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo A phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày: 23-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Đức Thọ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Trương Đức Thành;

2. Bà: Lục Thị Minh.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hạ Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/TLST-HS ngày 07/02/2023 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.

* Đối với bị cáo: A, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1978 tại: huyện B, tỉnh Cao Bằng; nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm P, xã L, huyện B, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Trồng trọt; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 02/12; con ông: C (Đã chết); con bà: D, sinh năm 1942; bị cáo có 02 (Hai) anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ: X, sinh năm 1977; bị cáo có 03 (Ba) con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Xấu.

- Ngày 21/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xử phạt 15 (Mười năm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số: 23/2017/HS-ST.

- Ngày 15/7/2019 bị Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” theo quyết định số: 51/QĐ-XPHC.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Th, sinh năm 1977; nơi cư trú: Xóm P, xã L, huyện B, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt).

*Người làm chứng: P, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Xóm N, xã , huyện B, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30' ngày 30/10/2022 Tổ công tác điều tra Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng đang thực hiện nhiệm vụ tại khu 3, thị trấn P, huyện B, tỉnh Cao Bằng phát hiện đối tượng A (sinh năm: 1978, trú tại: Xóm P, xã L, huyện B, tỉnh Cao Bằng) có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính, khi bị phát hiện A đã ném xuống dưới chân mình 01(Một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long. Tiến hành kiểm tra trong vỏ bao thuốc lá phát hiện có 01(Một) gói nhỏ được gói bằng nilon màu trắng, bên trong có 04(Bốn) gói nhỏ được gói bằng giấy kẻ ngang màu trắng chứa chất bột màu trắng ngà nghi là Heroine; do vậy, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật và một số đồ vật và phương tiện của đối tượng Ađể phục vụ công tác điều tra.

Tại Cơ quan điều tra A khai nhận: Sáng ngày 30/10/2022 Anhận được điện thoại của V (sinh năm: 1989, trú tại: xóm Nà T, xã V, huyện B, tỉnh Cao Bằng) hẹn gặp nói chuyện, sau đó A điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA VAVE màu vàng đen, biển kiểm soát: 11M1-01527 đến cây xăng L thuộc xóm Nà P, xã L, huyện B, tỉnh Cao Bằng để gặp Q. Một lúc sau Q đến và đưa cho A 01 (Một) gói được gói bằng nilon màu trắng, bên trong có 06 (Sáu) gói nhỏ được gói bằng giấy kẻ ngang màu trắng chứa Heroine. Q bảo A mang số Heroine này đi bán tại thị trấn P, huyện B, nếu bán hết số Heroine này thì sẽ được trả công 200.000 đồng, (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng). A nhận số Heroine Q đưa cho, cho vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long và cất vào túi áo rồi điều khiển xe máy đi đến thị trấn P, huyện B. Trên đường đi A dừng xe bên đường và lấy 01(Một) gói nhỏ ra sử dụng bằng hình thức chích vào cơ thể, sau đó Ađến Trung tâm Y tế huyện Bảo Lâm để uống Methadone, tiếp đó Ađi đến quán Bi-a tại khu 3, thị trấn P, huyện B bán cho Ng (sinh năm: 1997; trú tại: Xóm N, xã L, huyện B) được 01(Một) gói nhỏ Heroine với giá 200.000 đồng, (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) lúc sau A bị Công an huyện Bảo Lâm bắt quả tang.

Ngày 30/10/2022 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm đã tiến hành cân xác định khối lượng và gửi mẫu giám định. Kết quả cân xác định số Heroine thu giữ của A khi bắt quả tang có khối lượng là 0,13 gam (Không phẩy mười ba gam); Đồng thời, tại bản Kết luận giám định số: 365/KL- KTHS ngày 09/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng đã kết luận, chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine. Các vật chứng, tài sản đã được tạm giữ và chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng để đảm bảo việc thi hành án.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Áp dụng khoản 1, Điều 251; Điều 38; Điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Đề nghị, áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo A từ 28 (Hai mươi tám) đến 36 (Ba mươi sáu ) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự để xử lý.

- Về án phí: Xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo đã không tranh luận với đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh và điều luật, mức hình phạt đã đề nghị, trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về phụng dưỡng mẹ già và làm công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Hành vi phạm tội của bị cáo:

Ngày 30/10/2022 A điều khiển xe máy đến thị trấn P, huyện B, tỉnh Cao Bằng để tìm người mua má túy, tại quán bi-a tại khu 3, thị trấn P, huyện B A đã gặp và bán cho Q (sinh năm: 1997; trú tại: Xóm N, xã L, huyện B) được 01 (Một) gói nhỏ Heroine với giá 200.000 đồng, (Bằng chữ: hai trăm nghìn đồng), sau đó A bị Công an huyện Bảo Lâm bắt quả tang và bị thu giữ 0,13 gam (Bằng chữ: Không phẩy mười ba gam) Heroine.

Tại phiên tòa, bị cáo A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với tang vật vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tự trị an ở địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân, bị xã hội lên án và pháp luật nghiêm cấm. Hành vi trên đã cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" được quy định tại khoản 1, Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

“Điều 251: Tội mua bán trái phép chất ma túy:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị xử phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.

2………………….”

Bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSBL, ngày 06/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội.

. Nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo A từ nhỏ sống phụ thuộc gia đình, được bố mẹ nuôi dưỡng cho đi học, nhưng chỉ học đến lớp 02/12 thì thôi học ở nhà phụ giúp gia đình. Trưởng thành lấy vợ và sinh sống tại Xóm P, xã L, huyện B, tỉnh Cao Bằng chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt. Ở địa phương bị cáo không chịu khó lao động, tăng gia để có thu nhập cho bản thân và gia đình, thường xuyên có mỗi quan hệ qua lại với các đối tượng nghiện ma túy nên đã nghiện ma túy. Ngày 21/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xử phạt 15 (Mười năm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số: 23/2017/HS-ST. Ngày 15/7/2019 bị Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” theo quyết định số: 51/QĐ-XPHC. Sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, tiếp tục tái phạm và vi phạm pháp luật. Bị cáo nhận thức được tác hại của các chất ma túy đối với sức khỏe con người, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi mua bán trái phép các chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời nhằm tuyên truyền giáo dục cho mọi công dân về tác hại của các chất ma túy.

- Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo (điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự).

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

Trong vụ án này:

Đối với hành vi của Q là người mua ma túy với A, mục đích Q mua ma túy về là để bản thân sử dụng, không nhằm bán lại kiếm lời nên Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Bảo Lâm đã răn đe, chấn chỉnh đối tượng này, mục đích để trở thành công dân có ích cho xã hội mà không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Theo lời khai của bị cáo thì số ma túy A đem đi bán, có nguồn gốc do đối tượng P đưa cho bán giúp rồi trả tiền công; tuy nhiên, tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm đã tiến hành lấy lời khai, đối chất, thu thập chứng cứ nhưng không làm rõ được, nên không đủ căn cứ xử lý đối tượng Tuấn trong vụ án này, khi có căn cứ sẽ tiếp tục được khởi tố bằng vụ án khác.

[4]. Hướng xử lý vật chứng:

- 01(Một) phong bì niêm phong, bên trong chứa tang vật là ma túy: (loại Heroine) thu giữ của A; 01(Một) vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Thăng long. Các vật chứng trên liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không còn giá trị sử dụng; do vậy, cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI màn hình cảm ứng màu đen, số IMEI 1: 869389051310008/01, số IMEI 2: 869389051310016/01 (đã qua sử dụng). Thời điểm giao nhận không kiểm tra được được số IMEI do không khởi động được nguồn. Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa xác định điện thoại trên là của bị cáo A, tại biên bản đối chất và biên bản lấy lời khai P không thừa nhận đã đưa ma túy cho A bán giúp nên không làm rõ được hành vi này, Cơ quan Cảnh sát không đủ căn cứ để điều tra và xử lý đối với Tuấn. Do đó, đối với điện thoại trên không đủ cơ sở để xác định có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Phúc; do vậy, cần hoàn trả lại 01(Một) điện thoại trên cho bị cáo là có căn cứ.

- Đối với 01 (Một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu vàng, đen biểm kiểm soát: 11M1-015.27; Số khung: RLHJC 5238CY028313, số máy: JC52E-6377537; xe máy không có nắp hộp xích bên dưới (xe đã qua sử dụng). Kèm theo 01 chìa khóa xe. Qua điều tra xác minh được, đăng ký xe máy mang tên A, xe máy trên là tài sản của vợ, chồng bị cáo A và bà Th (vợ bị cáo) mua được trong thời kỳ hôn nhân, việc bị cáo sử dụng xe máy làm phương tiện để đi mua bán Heroine thì vợ bị cáo không biết, xác định xe máy trên là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, cần tịch thu pháp mại để nộp vào ngân sách Nhà Nước ½ giá trị của xe máy trên và trả lại người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Th ½ giá trị của xe máy sau khi phát mại.

- 01(Một) phong bì niêm phong, bên trong có 710.000 đồng, (bằng chữ: Bảy trăm mười nghìn đồng). Xác định trong số tiền trên có 200.000 đồng, là tiền bị cáo bán Heroine có được, còn lại số tiền 510.000 đồng, tiền do bị cáo A lao động mà có. Do vậy, cần tịch thu số tiền 200.000 đồng, để nộp vào Ngân sách Nhà nước; đồng thời, hoàn trả lại bị cáo Asố tiền 510.000 đồng, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

. Về án phí: Bị cáo A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định, để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo A phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, Điều 251; Điều 38; Điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo A 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 30/10/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong, bên trong chứa tang vật là ma túy (loại Heroine) thu giữ của A; 01(Một) vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Thăng long.

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền: 200.000 đồng, (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).

-Tịch thu phát mại nộp vào Ngân sách Nhà nước: ½ giá trị của 01 (Một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu vàng đen, biển kiểm soát: 11M1-015.27; Số khung: RLHJC 5238CY028313, số máy: JC52E-6377537; xe máy không có nắp hộp xích bên dưới (xe đã qua sử dụng), kèm theo 01(Một) chìa khóa xe.

- Trả lại bị cáo số tiền: 510.000 đồng, (bằng chữ: Năm trăm mười nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI màn hình cảm ứng màu đen, số IMEI 1: 869389051310008/01, số IMEI 2: 869389051310016/01 (đã qua sử dụng). Thời điểm giao nhận không kiểm tra được được số IMEI do không khởi động được nguồn.

- Trả lại người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Th: 1/2 giá trị của 01(Một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu vàng đen, biển kiểm soát: 11M1-015.27; Số khung: RLHJC 5238CY028313, số máy: JC52E-6377537; xe máy không có nắp hộp xích bên dưới (xe đã qua sử dụng). Kèm theo 01 chìa khóa xe, sau khi phát mại.

(Xác nhận tình trạng vật chứng hiện đã được giao, nhận bảo quản tại kho vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng số 17 ngày 06/02/2023).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Bị cáo A phải chịu 200.000 đồng, (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà Nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ