- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Anh Tuấn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH HÀ GIANG Bản án số: 07/2023/HS-ST Ngày 06-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Thái Dương.
Bà Nguyễn Hoài Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2023/TLST-HS ngày 14/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 27/3/2023 đối với bị cáo:
Lý Anh T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1996; nơi sinh: huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Hà Giang; chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Mìn S, sinh năm 1963 và con bà: Vàng Thị S, sinh năm 1963; có 03 anh, chị em ruột, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ con: Không; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 11/01/2023, chuyển tạm giam từ ngày 17/01/2023, hiện đang tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 11 giờ 45 phút ngày 11/01/2023, tổ công tác Công an huyện Bắc Mê và Công an xã Y thực hiện tuần tra phát hiện tại Km 20, Quốc lộ 34 hướng Hà Giang – Bắc Mê thuộc thôn B, xã Y, huyện Bắc Mê đối tượng Lý Anh T có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hoạt động tội phạm ma túy. Qua kiểm tra phát hiện trong ví của Lý Anh T có cất giấu: 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 03 gói nilon (gồm 02 gói màu đỏ, 01 gói màu xanh), trong mỗi gói có chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy (Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lý Anh T và thu giữ toàn bộ tang vật để điều tra, làm rõ. Cùng ngày tiến hành xét nghiệm nước tiểu cho kết quả Lý Anh T dương tính với chất ma túy.
Ngày 12/01/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Mê đã ra tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Lý Anh T tại Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Kết quả không phát hiện và thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Do là người nghiện ma túy (Heroine), tối ngày 10/01/2023, Tuấn đi đến khu vực vắng người tại phường Quang Trung, thành phố Hà Giang tìm mua ma túy để sử dụng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Tuấn gặp 01 người đàn ông lạ mặt nghi là người nghiện ma túy nên Tuấn hỏi mua ma túy (Heroine) thì được người này bán cho 01 gói ma túy (Heroine) với giá 2.400.000 đ. Tuấn trích ra một ít sử dụng tại ven đường sau đó chia số ma túy còn lại thành 03 gói nhỏ mang theo người để sử dụng dần. Sáng ngày 11/01/2023, Tuấn bắt xe khách vào huyện Bắc Mê chơi, khi đi đến địa phận thôn B, xã Y, huyện Bắc Mê thì xuống xe dừng nghỉ ngơi thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy còn lại.
Ngày 12/01/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Mê ra quyết định trưng cầu giám định 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 03 gói nilon, trong đó có 02 gói màu đỏ, 01 gói màu xanh, bên trong mỗi gói có chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy (Heroine) được niêm phong vào 01 phong bì màu trắng, ký hiệu từ A1 đến A3 gửi phòng PC09, Công an tỉnh Hà Giang.
Tại Kết luận giám định số 29 ngày 15/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, kết luận: Các mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3 đều là ma túy, loại Heroin, có tổng khối lượng là 0,739g (Không phẩy bảy trăm ba mươi chín gam). Heroin nằm trong Danh mục I, mục IA, số thứ tự 9, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Ngày 17/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Mê đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lý Anh T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Mê đã thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 03 gói nilon, trong đó có 02 gói màu đỏ, 01 gói màu xanh, bên trong mỗi gói có chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma túy (Heroine).
Số vật chứng còn lại sau giám định gồm: 01 phong bì màu trắng, được niêm phong, có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh, bên trong có chất ma túy hoàn trả sau giám định, mặt trước phong bì ghi “mẫu vật hoàn trả sau giám định, ký hiệu A1, A2, A3”, do Phòng kỹ thuật hình sự trả lại sau khi lấy mẫu giám định; 01 phong bì màu trắng được niêm phong, có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh, bên trong có vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ, mặt trước phong bì ghi “vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ” do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh trả lại sau khi lấy mẫu giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo Lý Anh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu.
Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSBM ngày 14/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang đã truy tố Lý Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lý Anh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 11/01/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong, có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, bên trong có chất ma túy, loại Heroin hoàn trả sau giám định, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định, ký hiệu A1, A2, A3” do Phòng kỹ thuật hình sự trả lại sau khi lấy mẫu giám định; 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, bên trong có vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ, mặt trước phong bì ghi: “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ” do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh trả lại sau khi lấy mẫu giám định.
+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa XIV quy định về án phí, lệ phí Tòa án, miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phần tranh luận, bị cáo nhất trí với tội danh, Điều luật và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị trong bản luận tội.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp nhà ở của bị cáo, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, phiếu xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu, bản ảnh vật chứng, bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Giang cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Ngày 11/01/2023, tại Km 20, Quốc lộ 34 hướng Hà Giang – Bắc Mê thuộc thôn B, xã Y, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, Lý Anh T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại heroine có khối lượng là 0,739g (Không phẩy bảy trăm ba mươi chín gam) trong ví tiền. Như vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang truy tố Lý Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước và trật tự xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy và việc Nhà nước nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy trái quy định pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng cá nhân. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục đối với bị cáo nói riêng và để phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi áp dụng mức hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Lý Anh T đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Mê, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong vụ án này còn có đối tượng khác liên quan:
Đối với bị cáo Lý Anh T ngoài hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đã bị khởi tố còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính là đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Lý Anh T số tiền 2.400.000 đồng nhưng không biết họ tên địa chỉ, qua điều tra không đủ cơ sở xác định nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy, vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ được hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 BLHS và Điều 106 của BLTTHS là phù hợp.
Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị về hình phạt, xử lý vật chứng, miễn tiền án phí và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn nộp án phí nên được miễn toàn bộ tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Lý Anh T 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 11/01/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong, có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, bên trong có chất ma túy, loại Heroin hoàn trả sau giám định, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định, ký hiệu A1, A2, A3” do Phòng kỹ thuật hình sự trả lại sau khi lấy mẫu giám định; 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, bên trong có vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ, mặt trước phong bì ghi: “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ” do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh trả lại sau khi lấy mẫu giám định.
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Mê và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lý Anh T được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Giang; - VKSND huyện; VKSND tỉnh Hà Giang; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Mê; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang; - Phòng PV06 CA tỉnh Hà Giang; - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê; - Nhà tạm giữ CA huyện Bắc Mê; - Chi cục THADS huyện Bắc Mê; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ( Đã ký) Hoàng Văn Thuận |