vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 09/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày 09- 3-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Minh Hằng và ông Nguyễn Minh Trí.

- Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Mau là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Dƣơng Q, sinh ngày 20/5/ 2002 tại huyện A1, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: Ấp n, xã Đ, huyện A1, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Dương Thị H; bị cáo chưa có vợ chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 26/9/2022 đến ngày 04/10/2022, bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 04/10/2022 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1978

Nơi cư trú: Ấp n, xã Đ, huyện A1, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 26/9/2022, Phạm Dương Q (gọi tắt là Q) điều khiển xe mô tô 68 FA -030.22 đi đến khu vực cầu treo thuộc ấp x, xã Đ1, huyện A, tỉnh Kiên Giang gặp một người thanh niên tên N không rõ nhân thân lai lịch mua 01 (một) bịch ma túy với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng) mục đích về để sử dụng. Q bỏ bịch ma túy vào bao thuốc lá Khánh Hội cất giấu trong túi quần cộc trái. Khi điều khiển xe về đến đoạn đường gần cầu treo thuộc ấp T, xã Đ1, huyện A thì bị công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, tạm giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Theo kết quả giám định số 934/KL-KTHS ngày 03/10/2022 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Kiên Giang xác định:

Các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chưa trong 01 (một) bịch nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại ma túy Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,4060 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSHAB ngày 10/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Phạm Dương Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Q thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung của cáo trạng đã nêu, bị cáo thừa nhận khoảng 17 giờ ngày 26/9/2022 sau khi mua được ma túy của người lạ mặt trên đường về nhà khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã Đ1 thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện An Biên tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ của Q 01 (một) bịch ma túy, 01 bao thuốc là Khánh Hội và xe mô tô biển kiểm soát 68 FA -030.22 là phương tiện bị cáo điều khiển để đi lại tại thời điểm bị bắt quả tang. Bị cáo thống nhất và không có khiếu nại gì đối với kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang về chất ma túy và khối lượng ma túy đã tàng trữ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – Ông phạm Văn T trình bày: Xe mô tô biển kiểm soát 68 FA -030.22 là do thuộc quyền sở hữu của ông T. Ngày 26/9/2022 Q hỏi mượn xe đi mua đồ và sau đó bị bắt vì đi mua ma túy về sử dụng. Việc Q lấy xe đi mua ma túy ông T không được biết. Hiện nay ông T đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác.

Trong bản luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Dương Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Dương Q từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và bao thuốc lá Khánh Hội.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được việc làm của mình là sai trái với pháp luật xin Hội đồng xem xét cho được hưởng mức án nhẹ để sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa đã làm rõ: Vào khoảng 17 giờ ngày 26/9/2022, tại đoạn đường thuộc ấp T, xã Đ1, huyện A gần cầu treo Thứ x qua kiểm tra Công an huyện An Biên đã phát hiện Q tàng trữ 01 (một) bịch ma túy cất giấu trong bao thuốc lá Khánh Hội để trong túi quần đang mặc trên người. Số ma túy trên có được là do Q mua của một người lạ tên N mục đích về để sử dụng. Bị cáo Q thừa nhận hành vi tàng trữ ma túy và đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

Theo kết luận giám định số 934/KL-KTHS ngày 03/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận số ma túy mà Q đã tàng trữ có khối lượng là 2,4060 gam Methamphetamine.

Với khối lượng ma túy mà Q cất giấu trên người đã bị Công an phát hiện và bắt quả tang đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên đã truy tố bị cáo Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Ma túy là loại độc dược gây nghiện nên Nhà nước xác lập chế độ thống nhất quản lý. Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ thống nhất quản lý về ma túy của Nhà nước trong đó có quy định về nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển các chất ma túy; ngoài ra hành vi vi phạm của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự, an ninh xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi hình sự, có khả năng để nhận thức rõ hành vi tàng trữ ma túy bị nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình.

Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ thái độ ăn năn về hành vi phạm tội của mình do đó có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự theo đề nghị của Viện kiểm sát.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng nên cần áp dụng một mức hình phạt đủ nghiêm khắc, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để tiếp tục giáo dục bị cáo thành công dân sống biết tuân thủ pháp luật đồng thời nhằm răn đe chung. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử xem xét để áp dụng.

Hiện nay bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Q.

Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng bao gồm: Số ma túy còn lại được hoàn trả sau giám định và 01 bao thuốc lá Khánh Hội.

Về trách nhiệm dân sự:

Ông Phạm Văn T đã nhận lại 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 68 FA-030.22 số loại 50C2, nhãn hiệu ESPERO màu sơn xanh, số máy 39FMB233732, số khung B3PEJA337932 đã qua sử dụng đồng thời không có yêu cầu gì khác nên không đề cập xem xét.

Các vấn đề khác:

Đối tượng tên N bán ma túy cho Q không rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý về sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Q phải nộp án hình phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Dương Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Dương Q 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 26/9/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Dương Quy.

2. Về biện pháp tƣ pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

- Các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon gửi giám định, sau khi tiến hành giám định khối lượng còn lại là 2,3541 gam ma túy Methamphetamine đựng trong 01 (một) bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 934/2022.

- 01 (một) bao thuốc lá Khánh Hội.

Các vật chứng này được thể hiện trong Quyết định chuyển vật chứng số 07/QĐ-VKSHAB ngày 11/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/3/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện An Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Văn T đã nhận lại 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 68 FA-030.22 số loại 50C2, nhãn hiệu ESPERO màu sơn xanh, số máy 39FMB233732, số khung B3PEJA337932 đã qua sử dụng đồng thời không có yêu cầu gì khác nên không đề cập xem xét.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Dương Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên là ngày 09/3/2023.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ