vanban.org

Bản án 07/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Ch.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch 02 năm 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Ch - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-PT
Ngày 22-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng; Ông Lê Văn Hà

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nga

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 87/2022/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Phạm Văn Ch, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 23/2022/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chư Ptỉnh Gia Lai.

Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Văn Ch, sinh năm 1997 tại tỉnh Hưng Y; Nơi cư trú: Thôn Piơr 2, xã Ia Piơr, huyện Chư Ptỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1977 và bà Trần Thị H, sinh năm 1979; Có vợ: Rah Lan H’Mép, sinh năm 1997 và 02 con sinh năm 2015 và 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/4/2021 bị Hạt kiểm lâm huyện Chư Ptỉnh Gia Lai xử phạt 11.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái phép”; Bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo hạm Văn Ch: Ông Thiều Hữu Minh - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt

* Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Kpuih Cheo, Siu Đĩt, Rah Lan Rai, Rơ Mah Kơ, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đêm ngày 15/3/2021, 08 đối tượng gồm Phạm Văn Ch, Siu Đĩt, Rah Lan HMul, Rơ Lan Ring Gô, Kpuih Cheo, Kpuih Ru, Rơ Mah Lin và Siu The cùng nhau đi khai thác gỗ trái phép tại khoảnh 5, tiểu khu 1008 thuộc lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Muer tại xã Ia Mơ, huyện Chư Ptỉnh Gia Lai. Phương tiện khai thác gồm 02 máy cưa, 03 xe công nông và hai xe mô tô. Khoảng 00 giờ ngày 16/3/2021 các đối tượng đã tiến hành khai thác và xếp gỗ lên ba xe công nông: xe thứ nhất do Siu The điều khiển, xe thứ hai do Rơ Mah Lin điều khiển, xe thứ ba do Siu Đĩt điều khiển đi về nhà của Phạm Văn Ch tại xã Ia Piơr.

Đến khoảng 04h00, khi đang di chuyển gỗ về xã Ia Mơ, thì bị Tổ công tác triển khai thực hiện nhiệm vụ kiểm tra bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng gồm đồng chí Trần Thế Tr, Hồ Hữu L đang trên đường tuần tra phát hiện, bắt giữ. Phạm Văn Ch xin Tổ liên ngành thả cho đi nhưng không được đồng ý. Sau đó có thêm lực lượng hỗ trợ đến gồm ông Nguyễn Hữu Ng, Siu Luân và Siu Cương là thành viên của Tổ liên ngành. Phạm Văn Ch tiếp tục xin Tổ công tác tha cho các đối tượng nhưng không được, Ch nói “Nếu các bác bắt thì chúng cháu không chịu, đây không phải xe của chúng cháu. Nếu các bắt thì chúng cháu sống chết với các bác”. Sau đó Ch quay lại phía các đối tượng và nói các đối tượng nổ máy xe công nông bỏ chạy về xã Ia Piơr. Lúc này, Phạm Văn Ch cầm một xà beng dài khoảng 130cm và Kpuih Cheo cầm một tuýp sắt dài khoảng 50cm (có sẵn trên xe công nông) quơ qua lại ngăn cản, uy hiếp không cho Tổ công tác đến gần nhằm để 03 xe công nông chạy thoát. Sau đó, Hmul ở lại chờ Ch và Cheo còn các đối tượng khác đều bỏ chạy về xã Ia Piơr. Khi các đối tượng đã chạy được một đoạn xa Ch và Cheo mới dừng việc cản trở Tổ công tác sau đó cùng Hmul điều khiển xe mô tô chạy trốn vào rừng cao su.

Lúc này Tổ công tác gọi thêm lực lượng đến hỗ trợ gồm: Đinh Minh Ph Nguyễn Văn Qu và Lại Tấn T. Sau đó Tổ công tác đuổi theo đến đoạn dốc đá thì bắt được một xe công nông do Siu Đĩt điều khiển, Siu Đĩt đã bỏ lại xe và chạy mất. Còn hai xe công nông khác thì chạy thoát về xã Ia Piơr, huyện Chư Prông. Sau khi bắt được xe công nông Siu Cương được giao điều khiển xe công nông chở gỗ về UBND xã Ia Mơ theo con đường kênh mương thủy lợi đang thi công. Những thành viên còn lại đi xe mô tô áp tải theo sau xe công nông vi phạm.

Sau khi bỏ chạy, Phạm Văn Ch đã gọi điện thoại cho Rah Lan Rai là em vợ của Ch và nhờ Rai báo cho gia đình về việc đi khai thác gỗ trái phép đã bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt lại trên đường về, nhắn gia đình lên UBND xã Ia Mơ để xin lại xe nếu các xe không chạy thoát được. Sau khi nhận được cuộc gọi Rai đã báo tin cho bố, mẹ, chị gái và Rơ Mah Kơ là anh trai của Rơ Mah Lin. Sau đó Rai điều khiển xe mô tô sang nhà Kơ và đưa Kơ đi tìm nhóm Phạm Văn Ch. Lúc này, Kơ cầm theo một gậy gỗ dài khoảng 60cm (là cán gậy bi-a bị gãy). Trên đường đi đến chỗ xe công nông bị bắt, Rai cùng Kơ gặp Siu Đĩt, cả ba đối tượng tiếp tục cùng đi về hướng xã Ia Mơ thì gặp được nhóm Ch, Cheo, Hmul. Siu Đĩt thông báo cho các đối tượng về việc xe công nông do mình điều khiển đã bị bắt và đang được đưa về xã Ia Mơ theo đường kênh mương nên các đối tượng đuổi theo Tổ công tác để lấy lại xe, đến đoạn ngã ba kênh mương, các đối tượng đã bỏ xe mô tô lại và chạy bộ đuổi theo Tổ công tác. Lúc này Phạm Văn Ch hô hào các đối tượng chạy lên chặn xe lại để lấy lại xe công nông bị bắt. Rơ Mah Kơ cầm một cán gậy bi-a mang theo từ nhà, Kpuih Cheo cầm một tuýp sắt và Rah Lan Rai nhặt một cây gỗ bên đường xông lên trước. Phạm Văn Ch, Siu Đĩt và Rah Lan Hmul nhặt ba thanh sắt bên đường theo sau. Khi các đối tượng cầm hung khí đến gần, các đồng chí Tổ công tác rút chạy và để lại hai xe mô tô (có cắm chìa khóa, trong đó có một xe dựng đứng và một xe ngã nằm ra đất). Sau đó các đồng chí trong Tổ công tác quay lại dùng dùng bình xịt hơi cay và đất, đá ném trấn áp các đối tượng khiến các đối tượng bỏ chạy khỏi hiện trường. Trong lúc bỏ chạy, Rơ Mah Kơ chạy sau cùng, do sợ bị bắt giữ nên Kơ đã lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda – Blade màu đen, BKS 81B2-621.89 của anh Nguyễn Văn Qu đã bỏ lại để bỏ chạy. Tổ liên ngành không đuổi theo mà tiếp tục đưa xe công nông vi phạm về xã Ia Mơ.

Các đối tượng bỏ chạy thì gặp thêm Kpuih Ru. Khi đến gần lô cao su thì tiếp tục gặp ông Rơ Mah Pin và bà Rơ Lan Hamin (bố mẹ vợ của Ch), Rơ Lan H’mép (vợ của Ch) cùng Phạm Thị Trang (em gái của Ch) bế theo con gái nhỏ của Ch. Khi biết chuyện xe công nông của Siu Đĩt mượn của bố vợ là ông Rơ Mah Phét (trú tại Piơr 2, xã Ia Piơr) bị bắt Rơ Lan H’mép đề nghị tiếp tục tìm Tổ công tác để xin lại xe, Kơ cũng đề nghị quay lại để trả lại xe mô tô vừa lấy của Tổ liên ngành. Lúc này Ch và Đĩt gọi điện về báo cho ông Rơ Mah Phét đi qua xã Ia Mơ, xin lại xe công nông. Sau đó các đối tượng tiếp tục đuổi theo Tổ công tác, Kpuih Cheo chở theo Phạm Văn Ch, Rơ Mah Kơ chở theo Rơ Lan H’mép và bố mẹ vợ của Ch đi đường vòng nên đến đứng đợi đón đầu xe công nông đang bị áp tải. Lúc này xe công nông đi phía trước, Tổ công tác đi phía sau cách khoảng hơn 20 mét. Khi đến gần các đối tượng, đồng chí lái xe công nông bỏ chạy về phía Tổ công tác và bỏ lại xe công nông. Ch và Kơ đi đến xe công nông, Kơ trèo lên xe định bỏ gỗ xuống nhằm lấy lại xe công nông thì bị Tổ liên ngành đuổi đến kịp và sử dụng bình xịt hơi cay để ngăn cản khiến các đối tượng bỏ chạy.

Lúc này lực lượng công an xã Ia Mơ cũng đến hỗ trợ lực lượng liên ngành. Rơ Lan H’mép thấy vậy quay lại ngồi lên xe công nông và yêu cầu chờ ông Rơ Mah Phét đến giải quyết vì xe các đối tượng mượn của ông Phét. Sau đó ông Rơ Mah Phét đến, được vận động, giải thích ông Phét đã đồng ý để lực lượng chức năng đưa xe về công an xã Ia Mơ. Rơ Lan H’mép đã xin lỗi Tổ công tác và xin trả lại chiếc xe mô tô mà Rơ Mah Kơ đã lấy trước đó. Đồng chí Nguyễn Văn Qu đã nhận lại xe mô tô của mình. Sau đó các đối tượng cùng xe công nông vi phạm được đưa về xã Ia Mơ để làm việc.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sơ thẩm số 23/2022/HSST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chư Ptỉnh Gia Lai đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Ch, Kpuih Cheo, Siu Đĩt, Rơ Lan Rai, Rơ Mah Kơ phạm tội “Chống người thi hành công vụ”

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch 03 năm (ba năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Kpuih Cheo 16 (mười sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 (ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án (30/8/2022)

Xử phạt bị cáo Siu Đĩt 14 (mười bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 (hai mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án (30/8/2022)

Xử phạt bị cáo Ra Lan Rai 14 (mười bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 (hai mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án (30/8/2022)

Xử phạt bị cáo Rơ Mah Kơ 16 (mười sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 (ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án (30/8/2022)

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo luật định.

3. Kháng cáo của bị cáo: Bị cáo Phạm Văn Ch kháng cáo cho rằng bị cáo không có hành vi xúi giục, lôi kéo, kích động các bị cáo khác và tại phiên tioaf bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu thể hiện vợ bị cáo là Rah Lan H’mep đang mang thai; đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt, giảm cho bị cáo Ch 6 tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo: Đồng ý bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu thể hiện vợ bị cáo đang mang thai, hoàn cảnh gia đình khó khăn; mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử bị cáo mức án 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Ngày 16/3/2021 khi bị tổ liên ngành bảo vệ rừng bắt giữ về hành vi vi phạm khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, Phạm Văn Ch xin tha nhưng không được thì Ch nói các đối tượng nổ máy xe bỏ chạy. Các đối tượng khác trên 3 xe lái xe bỏ chạy. Ch và Kpuih Cheo cầm xà beng, tuýp sắt quơ qua quơ lại ngăn tổ công tác đuổi theo rồi cũng bỏ chạy.

Trong lúc chạy, Ch gọi điện thoại cho Rah Lan Rai, nhờ báo với gia đình lên xã xem nếu có xe bị bắt đưa về xã thì xin lại xe. Sau khi nghe điện thoại của Ch, Rai liên lạc với Rơ Mah Kơ và đi xe đến nhà để đón Kơ, khi gặp Kơ thì Rai thấy Kơ cầm theo cây gỗ dài (cán gậy bi a) nhằm tấn công lực lượng thi hành công vụ. Trên đường đi Rai, Kơ gặp Đĩt thông báo xe bị bắt, được đưa đi theo hướng xã Ia Mơ thì cả 3 đi cùng xe máy đuổi theo tổ công tác và trên đường đi thì gặp Ch, Cheo, thì Ch, Đĩt, Hmul nhặt 3 thanh sắt, Cheo cầm tuýp sắt, Kơ cầm cây gỗ và Rai nhặt cây gỗ cùng nhau đuổi theo tấn công tổ công tác.

Hành vi dùng xà beng, tuýp sắt, cây gỗ đe doạ tấn công tổ liên ngành thực hiện công vụ của Phạm Văn Ch cùng đồng phạm đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại Điều 330 Bộ luật Hình sự; Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ.

Đối với Phạm Văn Ch là người khởi xướng, đã có lời nói chỉ huy, hô hào các bị cáo khác, nhưng xem xét toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội, HĐXX thấy rằng: các bị cáo cùng nhau khai thác trái phép gỗ, vận chuyển, cùng Ch một mục đích là được lợi ích cá nhân, thể hiện bị cáo Đĩt và đối tượng Rah Lan Ring Gô mượn xe đi chở gỗ, và tất cả các bị cáo đều mong muốn được chia tiền bán gỗ nên các bị cáo mới nảy sinh ý định phạm tội. Toà án cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội và xử phạt bị cáo Ch 3 năm tù là nặng; mặc khác, tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Ch tiếp tục có đơn xác nhận của chính quyền địa phương hoàn cảnh gia đình khó khăn, hộ cận nghèo, bị cáo là lao động chính, vợ bị cáo đang mang thai; do đó chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Ch. Sửa bản án sơ thẩm số 23/2022/HSST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chư Ptỉnh Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn Ch

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự 2015

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch 02 năm 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn Ch không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ