- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Huỳnh N - Lê Thanh T"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST Ngày: 03/02/2023 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Ông Lương Chí Nguyện
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 496/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị N, sinh năm 1987 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm A, phường H, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
Nơi ở hiện nay: ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Anh T, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm A, phường H, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị N trình bày: Chị N và anh Lê Thanh T chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 09/5/2012, tại Ủy ban nhân dân thị trấn HH (nay là phường H), thị xã R, tỉnh Bạc Liêu. Anh chị có 02 con chung: Cháu Lê Yến N, sinh ngày 27/03/2015; cháu Lê Yến V, sinh ngày 02/5/2011. Trong thời gian chung sống vợ chồng, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Từ khi chị N sinh cháu Ng thì giữa chị và anh T đã sống ly thân, đến nay đã 07 năm. Trong thời gian sống ly thân giữa chị và anh T không quan tâm đến đời sống của nhau. Do đó, chị N nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh T không hạnh phúc, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T. Về con chung khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ng, đồng ý giao cháu L V cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng và chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Thanh T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên toà xét xử, nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của anh T.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng không có lý do là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh T. Về con chung giao cháu Lê Yến Ng, sinh ngày 27/03/2015 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Lê Yến V, sinh ngày 02/5/2011 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, anh T và chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tạ i phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị N và anh T tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân thị trấn H (nay là phường H), thị xã R, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09/5/2012 theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay chị N khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T và được nuôi con đây thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn”, anh T hiện đang cư trú tại Khóm A, phường H, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: chị N là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T là bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn.
Về hôn nhân:
Sau khi kết hôn hợp pháp, chị N và anh T sống với nhau hòa thuận một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do cả hai bất đồng quan điểm sống. Từ khi chị N sinh cháu Ng thì giữa chị và anh T đã sống ly thân, đến nay đã 07 năm. Trong thời gian sống ly thân giữa chị và anh T không quan tâm đến đời sống của nhau. Hiện nay chị N xác định vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, đời sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị N đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh T.
Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án đã hòa giải để chị N và anh T đoàn tụ nhưng chị N cương quyết ly hôn vì nhận thấy không còn tình cảm, cả hai không còn quan tâm nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Còn anh T mặc dù đã được triệu tập hợp lệ để tham gia hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, nên không thể ghi nhận ý kiến của anh T. Mặc khác, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tình yêu thương của cả hai vợ chồng, nhưng chị N cương quyết xin ly hôn, giữa chị và anh T cũng sống ly thân thời gian dài, vì vậy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của anh chị đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.
Về con chung: chị N và anh T có 02 con chung là Cháu Lê Yến Ng, sinh ngày 27/03/2015; cháu Lê Yến V, sinh ngày 02/5/2011, khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Yến Ng, đồng ý giao cháu Yến V cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng vì từ nhỏ đến nay cháu Ng sống với chị, còn cháu V thì sống với anh T. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ biên bản xác minh Trưởng khóm A, phường H, thị xã R xác định hiện tại cháu Vi sống cùng anh T, được anh T cho đi học đầy đủ, cháu phát triễn bình thường. Cũng tại biên bản xác minh ngày 19/12/2022 Toà án tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu Vi, tuy nhiên không ghi nhận được ý kiến của cháu do cháu đi học không có ở nhà. Tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu Ng thì cháu Ng có nguyện vọng sống chung với chị N vì từ nhỏ đến nay cháu sống với mẹ, hiện tại cháu được chị N cho đi học và phát triễn tốt. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đồng thời để tránh làm sáo trộn đời sống và sự phát triển tâm sinh lý của các cháu, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ giao cháu Lê Yến V cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Yến Ng cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T và chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không có căn cứ xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị N phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Huỳnh N được ly hôn với anh Lê Thanh T.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Yến Ng, sinh ngày 27/03/2015 cho chị Trần Thị Huỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục; cháu Ngân hiện tại sống với chị N nên được giữ nguyên. Giao cháu cháu Lê Yến V, sinh ngày 02/5/2011 cho anh Lê Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục; cháu V hiện tại đang sống với anh T nên được giữ nguyên.
2.1. Anh Lê Thanh T và chị Trần Thị Huỳnh N không phải cấp dưỡng nuôi con do không yêu cầu.
2.2 Anh Lê Thanh T và chị Trần Thị Huỳnh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị Huỳnh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm buộc chị Trần Thị Huỳnh N có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Trần Thị Huỳnh N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số: 0004529, ngày 18/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã R, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận - Các đương sự; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND cùng cấp; - CCTHADS cùng cấp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy |