vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Đoàn Thế D.

Về con chung: Giao con chung là cháu Đoàn Quốc V – sinh ngày 12/01/2007 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; anh Đoàn Thế D không phải cấp dưỡng nuôi con Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Đoàn Thế D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ – ST
Ngày: 21/02/2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Diễm Anh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Công Nguyên và bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Trúc Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 426/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; Nơi cư trú: 72 NQ, phường 5, thành phố Tuy Hoà, Phú Yên. Có mặt

- Bị đơn: Đoàn Thế D, sinh năm 1976; Nơi cư trú: 72 NQ, phường 5, thành phố Tuy Hoà, Phú Yên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị T trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Đoàn Thế D tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Sông Cầu (nay là thị xã Sông Cầu) vào năm 2007. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc đến khoản năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh D ngoại tình trong suốt thời gian dài, không có trách nhiệm với vợ con, gia đình, không lo làm ăn mà đá gà cá độ, về nhà thường xuyên mắng chửi xúc phạm vợ con khiến cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nặng nề. Con cái sống trong cảnh cha mẹ thường xuyên mâu thuẫn nên khiến con sinh ra buồn bực, bỏ học, hư hỏng. Nay mâu thuẫn đã quá nghiêm trọng, không còn khả năng hàn gắn được nữa, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn.

Về con chung: có 01 con chung là Đoàn Quốc V – sinh ngày 12/01/2007, hiện nay con đang sống cùng với bố mẹ. Nay chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không cần anh D phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà giải quyết.

- Tại các biên bản hoà giải, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Đoàn Thế D trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Đoàn Thế D tự nguyện tìm hiểu và kết hôn như nguyên đơn trình bày. Anh D thừa nhận có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác nhưng đã chấm dứt từ lâu. Bản thân anh cũng biết mình sai, có lỗi vì làm vợ đau khổ và đã năn nỉ vợ tha thứ nhiều lần nhưng không được. Vì vậy anh không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn, tiếp tục sống chung xây dựng gia đình hạnh phúc.

Về con chung: có 01 con chung là Đoàn Quốc V – sinh ngày 12/01/2007, hiện nay con đang sống cùng với bố mẹ. Trong quá trình nuôi con chị T thường xuyên bênh vực con khi anh dạy dỗ cháu, khiến cháu có ứng xử hỗn hào với bố. Trường hợp nếu ly hôn thì theo ý kiến của cháu muốn ở với ai mà toà giải quyết.

Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà giải quyết.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự.

+ Về nội dung vụ án: đề nghị HĐXX căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về ly hôn, bị đơn có nơi cư trú tại 72 NQ, phường 5, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Đoàn Thế D tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Sông Cầu (nay là thị xã Sông Cầu) nên là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn như đương sự đã trình bày. Quá trình hoà giải, ông D thừa nhận mình ngoại tình. Việc ông D thường xuyên la lối, mắng chửi đòi đánh vợ như nguyên đơn trình bày là phù hợp với kết quả xác minh tại Công an phường 5 và lời trình bày của cháu Đoàn Quốc V. Vì vậy HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: có 01 con chung là Đoàn Quốc V – sinh ngày 12/01/2007. Cháu V có đơn tự nguyện ở với mẹ nên yêu cầu được trực tiếp nuôi con của nguyên đơn là phù hợp. HĐXX chấp nhận giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Đoàn Thế D.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Đoàn Quốc V – sinh ngày 12/01/2007 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; anh Đoàn Thế D không phải cấp dưỡng nuôi con

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: không xét.

- Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007656 ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- TA tỉnh Phú Yên;

- VKSND TP Tuy Hòa;

- Chi cục THADS TP Tuy Hòa;

- UBND thị xã Sông Cầu;

- Đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Lê Diễm Anh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu Thảo Lý Công Nguyên

Lê Diễm Anh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Oanh Lý Công Nguyên

Lê Diễm Anh Trúc Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- TA tỉnh Phú Yên;

- VKSND TP Tuy Hòa;

- Chi cục THADS TP Tuy Hòa;

- UBND phường 6, Tp Tuy Hòa;

- Đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Lê Diễm Anh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Huỳnh Thị Minh Tuyết Lê Thị Thanh Thuấn

Lê Diễm Anh Trúc

Cỡ chữ