vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện về yêu cầu xin ly hôn của ông T đối với bà Y.

Về quan hệ hôn nhân: Ông T được ly hôn với bà Y. Về con chung: Giao con chung cháu V – Sinh ngày 16/01/2021 cho bà Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh T - Phan Y"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về yêu cầu xin ly hôn của ông T đối với bà Y.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06/02/2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Y Blao BKrông.

2. Bà Nguyễn Thị Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thảo.

Ngày 06 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 793/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023, và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông T – Sinh năm 1984 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số 96 Đường X, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Bà Y – Sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 96 Đường X, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông T trình bày có nội dung như sau:

Tôi (T) và bà Y tìm hiểu và tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường B, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng vào ngày 21 tháng 5 năm 2020.

Trong quá trình chung sống, tôi và bà Y chỉ chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách, lối sống không hợp nhau. Chúng tôi đã cố gắng hòa giải, hàn gắn mâu thuẫn nhưng vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Hiện nay chúng tôi đã sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà Y.

Về con chung: Tôi và bà Y có một con chung là cháu V – Sinh ngày 16/01/2021. Do cháu V còn nhỏ tuổi, và là con gái nên sống cùng mẹ sẽ tốt hơn, vì vậy nguyện vọng của tôi là giao cháu V cho bà Y trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cháu V, mức cấp dưỡng hàng tháng là 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi và bà Y không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Đối với bị đơn bà Y, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần theo quy định của pháp luật nhưng bà Y không có mặt theo Giấy triệu tập đương sự của Tòa án, không tham gia phiên họp theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Tại Đơn trình bày nguyện vọng đề ngày 03 tháng 02 năm 2023, bị đơn bà Y trình bày có nội dung như sau:

Tôi (Y) và ông T có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường B, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Sau khi kết hôn, tôi và ông T chung sống hạnh phúc tại thành phố Đà Nẵng. Sau đó tôi và ông T chuyển về sinh sống tại thành phố Buôn Ma Thuột cùng với gia đình nhà chồng. Đến tháng 03 năm 2022 thì tôi phát sinh mâu thuẫn với gia đình nhà chồng do lối sống không hợp nhau. Nay ông T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết cho ly hôn thì tôi đồng ý ly hôn với ông T.

- Về con chung: Tôi và ông T có một con chung là cháu V – Sinh ngày 16/01/2021. Tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu V cho đến tuổi trưởng thành.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi đề nghị ông T có trách nhiệm cấp dưỡng để nuôi con chung cháu V, mức cấp dưỡng hàng tháng là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 01 hàng tháng, cách thức cấp dưỡng là chuyển tiền vào số tài khoản X mở tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), chủ tài khoản mang tên Y.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tôi và ông T không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu quan điểm như sau:

- Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Đối với Nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành tốt các quy định của pháp luật

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét chấp nhận đơn khởi kiện của ông T. Chấp nhận ông T được ly hôn với bà Y. Chấp nhận giao con chung cháu V – Sinh ngày 16/01/2021 cho bà Y trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cháu V, mức cấp dưỡng hàng tháng là 2.000.000 đồng. Việc cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp:

Nguyên đơn ông T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn bà Y. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về trình tự, thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn bà Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do lần thứ hai, nên Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà Y đi đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng vào ngày 21 tháng 5 năm 2020 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 82), đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, do bất đồng quan điểm sống, lối sống không hợp nhau, nên ông T và bà Y xảy ra mâu thuẫn. Ông T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Y.

Qua tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều xác định, trong quá trình chung sống giữa ông T và bà Y xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Hiện nay ông T và bà Y sống ly thân, bà Y về nhà mẹ đẻ sinh sống. Ông T và bà Y không có biện pháp để hàn gắn mâu thuẫn.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông T và bà Y đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu của ông T xin ly hôn với bà Y là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Xét về con chung: Ông T và bà Y có một con chung là cháu V – Sinh ngày 16/01/2021. Ông T và bà Y đều thống nhất giao con chung cháu V cho bà Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Y yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng để nuôi con chung cháu V, mức cấp dưỡng hàng tháng là 3.000.000 đồng. Ông T tự nguyện cấp dưỡng để nuôi con chung, mức cấp dưỡng hàng tháng là 2.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, mức cấp dưỡng mà bà Y yêu cầu là không phù hợp với khả năng thực tế của ông T. Do đó, để bảo đảm cuộc sống của ông T, đồng thời bảo đảm quyền lợi, đáp ứng nhu cầu chi phí sinh hoạt của con chung chưa thành niên, cần buộc ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với mức cấp dưỡng là 2.500.000 đồng, thời hạn cấp dưỡng từ tháng 3 năm 2023 cho đến khi con chung cháu V đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 05 hàng tháng,

Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà Y xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông T phải chịu án phí hôn nhân và gia đinh sơ thẩm theo

̀ quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về yêu cầu xin ly hôn của ông T đối với bà Y.

Về quan hệ hôn nhân: Ông T được ly hôn với bà Y.

Về con chung: Giao con chung cháu V – Sinh ngày 16/01/2021 cho bà Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Ông T, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cháu V – Sinh ngày 16/01/2021, mức cấp dưỡng hàng tháng là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3 năm 2023 cho đến khi cháu V đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 05 hàng tháng

Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà Y không yêu cầu, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

2. Về án phí:

Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đinh sơ thẩm về việc

̀ ly hôn, và 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đinh sơ thẩm đ ối với nghĩa vụ cấp

̀ dưỡng nuôi con chung, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021465 ngày 03 tháng 10 năm 2022. Ông T còn phải nộp số tiền 300.000 đồng.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ