- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn Sầm Thị M - Lô Văn C"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Sầm Thị M được ly hôn anh Lô Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07 /2023/HNGĐ-ST Ngày 10/01/2023 V/v Ly hôn giữa chị M và anh C. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Đào
2. Ông Hoàng Văn Phan
Thư ký phiên toà: Bà Kim Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2022/TLST – HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2022 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66 /2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Sầm Thị M, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Có mặt).
Bị đơn: Anh Lô Văn C, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện hợp pháp và phiên dịch của anh Cả: Bà Trương Thị M, sinh
năm 1965. Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Bà M là mẹ đẻ của anh C)
(Anh C và bà M có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và tại biên bản ghi lời khai nguyên đơn chị Sầm Thị M trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lô Văn C kết hôn vào ngày 03/11/2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Chị và anh Lô Văn C do tính tình không hợp nhau nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 07 năm 2014. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị M yêu cầu Tòa giải quyết được ly hôn với anh Lô Văn C.
Về con chung: Chị và anh Lô Văn C có một con chung là Lô Chí K, sinh ngày 23/5/2010. Nếu ly hôn, chị M đồng ý giao con Lô Chí K cho anh C nuôi dưỡng và chị đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C 1.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 11 năm 2022 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Chị Sầm Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lô Văn C là người câm,điếc bẩm sinh nên tại biên bản ghi lời khai bà Trương Thị M là đại diện hợp pháp của anh Lô Văn C trình bày:
Về hôn nhân: Anh Lô Văn C và Sầm Thị M đăng ký kết hôn 03/11/2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Anh C và Sầm Thị M từ trước đến nay không hay xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, tuy nhiên từ năm 2012, chị M bỏ về nhà mẹ đẻ sống và hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị M xin ly hôn, anh Cả cũng đồng ý ly hôn với chị M.
Về con chung: Anh Lô Văn C và Sầm Thị M là vợ chồng có một con chung Lô Chí K, sinh ngày 23/5/2010. Nếu ly hôn, anh Lô Văn C xin được nuôi con và yêu cầu Sầm Thị M cấp dưỡng nuôi con cùng anh 1.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản: Anh Lô Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51; khoản 1 điều 56; các Điều 81, 82, 83, điều 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 227; khoản 1 điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Sầm Thị M được ly hôn anh Lô Văn C. Về con chung: Giao con chung Lô Chí K, sinh ngày 23/5/2010 cho anh Lô Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 11 năm 2022 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành) Sầm Thị M cấp dưỡng nuôi con cùng anh 1.000.000 đồng/tháng; Về tài sản chung: Chị Sầm Thị M, anh Lô Văn C không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí: Chị Sầm Thị M phải chịu án phí DSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị Sầm Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lô Văn C và yêu cầu về giao nuôi con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Lô Văn Cả đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn anh Lô Văn C có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên cần căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt đối với anh Lô Văn C.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Sầm Thị M và anh Lô Văn C đăng ký kết hôn vào ngày 03/11/2010 tại UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân của chị M và anh C đảm bảo về điều kiện kết hôn và đúng nghi thức theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung hòa thuận được một thời gian, rồi do tính tình không hợp nhau nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 07 năm 2014. Chị M xin ly hôn thì anh C cũng đồng ý và trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị M không thay đổi ý kiến, tại phiên toà chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu đó. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần giải quyết cho chị Sầm Thị M được ly hôn anh Lô Văn C.
Về con: Nếu ly hôn, xét nguyện vọng của hai bên đương sự về việc giao nuôi con, thấy rằng: Căn cứ vào nguyện vọng của hai bên đương sự, xét hoàn cảnh, điều kiện để nuôi con phát triển lành mạnh thể chất, trí tuệ nên cần giao con chung Lô Chí K, sinh ngày 23/5/2010 cho anh Lô Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 11 năm 2022 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành) và chị Sầm Thị M cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Lô Văn C 1.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 11 năm 2022 cho dến khi con đủ 18 tuổi là hợp lý.
Về tài sản: Chị Sầm Thị M và anh Lô Văn C không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Sầm Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84, Điều 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 227; khoản 1 điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về hôn nhân: Cho chị Sầm Thị M được ly hôn anh Lô Văn C.
Về con: Chị Sầm Thị M giao con chung Lô Chí K, sinh ngày 23/5/2010 cho anh Lô Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 11 năm 2022 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành). Chị Sầm Thị M cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Lô Văn C 1.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 11 năm 2022 cho dến khi con đủ 18 tuổi. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Sầm Thị M phải chịu án phí DSST 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ trong số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị Sầm Thị M đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006993 ngày 08 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp.
Chị Sầm Thị M chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 10/01/2023. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Hợp; - Chi cục THADS huyện Quỳ Hợp; - UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Quán Vi Tuấn |