vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Sơn Thị Tú T được ly hôn với ông Sơn V

Về con chung: Giao cho ông Sơn V được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con tên Sơn Nhật M, sinh ngày 23/02/2019 đến đủ 18 tuổi; bà Sơn Thị Tú T được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của bà Sơn Thị Tú T cấp dưỡng mỗi tháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Sơn Thị Tú Trinh yêu cầu ly hôn cùng ông Sơn V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Sơn Thị Tú T được ly hôn với ông Sơn V
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH SÓC TRĂNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-01-2023
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Hiệp.

2. Bà Đào Đắc Cẩm Tú.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tiểu Loan – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện M tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10/01/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Sơn Thị Tú T, sinh năm 2004 (Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Sơn V, sinh năm 1996 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 11 tháng 10 năm 2022, tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 08/12/2022 nguyên đơn bà Sơn Thị Tú T trình bày:

Bà Sơn Thị Tú T và Sơn V cưới nhau năm 2018 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi cưới bà và ông Vân chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu sau đó vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường hay cải vã cùng nhau ông Sơn V thường hay dùng bạo lực với bà T từ đó cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc đến tháng 03/2022 vợ chồng đã sống ly thân cùng nhau cho đến nay. Trong thời gian chung sống bà Sơn Thị Tú T và ông Sơn V có một người con chung tên Sơn Nhật M, sinh ngày 23/02/2019 hiện đang sống cùng ông Vân. Nay bà T yêu cầu được ly hôn với ông Sơn V.

- Về con chung: Bà Sơn Thị Tú T đồng ý tiếp tục giao con cho ông Sơn V được tiếp tục nuôi con tên con chung tên Sơn Nhật M, sinh ngày 23/02/2019 đến trưởng thành, bà tự nguyện cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Sơn V: Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự nhưng ông Sơn V vắng mặt không lý do, ông cũng không có ý kiến đối với việc bà Sơn Thị Tú T yêu cầu ly hôn cùng ông.

Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; tại phiên tòa hôm nay bà T có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn ông Sơn V chưa thực hiện và chấp hành đúng quy định pháp luật do vắng mặt không có lý do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải; ông Sơn V đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, ông Vân đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng ông vẫn vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bà Sơn Thị Tú T và ông Sơn V.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Sơn Thị Tú T cho bà Sơn Thị Tú T được ly hôn với ông Sơn V; Về con chung tiếp tục giao cháu Sơn Nhật M, sinh ngày 23/02/2019 cho ông Sơn V nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi; về cấp dưỡng nuôi con bà Sơn Thị Tú T đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; Về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung không có; Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bà Sơn Thị Tú T có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với ông Sơn V đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, ông Vân đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng ông Vân vẫn vắng mặt, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà Sơn Thị Tú T và ông Sơn V.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Sơn Thị Tú T và ông Sơn V cưới nhau năm 2018 ông, bà tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 38/2022 ngày 09/03/2022 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Sơn Thị Tú T và ông Sơn V là hôn nhân hợp pháp.

Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà Sơn Thị Tú T, Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi kết hôn thì bà T, ông Vân sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng thường hay cải vã cùng nhau, cuộc sống hôn nhân không dung hòa được dẫn đến vợ chồng sống không có hạnh phúc bà T và ông Vân đã sống ly thân cùng nhau từ tháng 3 năm 2022 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà T và ông Vân đã không hạnh phúc dẫn đến bà T và ông Vân sống ly thân từ thánh 3 năm 2022 đến nay. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà T và ông Vân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Sơn Thị Tú T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Sơn Thị Tú T và ông Sơn V có 01 đứa con chung tên Sơn Nhật M, sinh ngày 23/02/2019, hiện đang sống với ông Sơn V. Khi ly hôn bà T đồng ý giao con cho ông Sơn V tiếp tục nuôi con tên Sơn Nhật M đến tuổi trưởng thành. Xét thấy, từ khi bà Sơn Thị Tú T và ông Sơn V sống ly thân cùng nhau đến nay thì cháu Sơn Nhật M sống chung cùng ông Vân, bà T đồng ý giao con cho ông Sơn V tiếp tục nuôi con nhằm để tránh cuộc sống hiện tại của em Sơn Nhật M không bị xáo trộn, không làm ảnh hưởng đến tâm lý và ổn định việc học của em Sơn Nhật M nên cần tiếp tục giao em Sơn Nhật M cho ông Sơn V được quyền tiếp tục nuôi đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của bà Sơn Thị Tú T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật tương đương mỗi tháng là 745.000 đồng đến khi em Sơn Nhật M đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Sơn Thị Tú T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Sơn Thị Tú T được ly hôn với ông Sơn V

2.Về con chung: Giao cho ông Sơn V được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con tên Sơn Nhật M, sinh ngày 23/02/2019 đến đủ 18 tuổi; bà Sơn Thị Tú T được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của bà Sơn Thị Tú T cấp dưỡng mỗi tháng là 745.000 đồng đến khi em Sơn Nhật M, sinh ngày 23/02/2019 đủ 18 tuổi.

4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

5. Về Nợ chung: Không có.

6. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Sơn Thị Tú T phải chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005568 ngày 18/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M; bà T phải nộp thêm 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M.

Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với các đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ