- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Đinh Phương T ly hôn anh Đặng Công T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22/5/2023 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Trần Đức Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Ngọc.
2. Ông Nguyễn Hữu Tỉnh.
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Công Thương, là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Huyền Trang, là Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Đinh Phương T, sinh năm 1995; nơi cư trú: thôn T, xã S, huyện K, tỉnh Hà Nam.
2. Bị đơn: anh Đặng Công T, sinh năm 1994; nơi cư trú: thôn B, xã M, huyện L, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa, chị T vắng mặt, anh T có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Đinh Phương T trình bày:
Chị T và anh Đặng Công T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 4 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam. Cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn cãi vã. Chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2022, không còn quan tâm đến nhau. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Giữa chị T và anh T có một con chưa thành niên tên là Đặng Bảo N, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2018, hiện tại con đang sinh sống cùng với mẹ. Sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con. Về cấp dưỡng cho con, chị không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Giữa chị T và anh T không có tài sản và nợ chung.
* Tại bản tự khai ngày 22 tháng 3 năm 2023, đơn đề nghị ngày 18 tháng 5 năm 2023 và tại phiên tòa, bị đơn anh Đặng Công T trình bày:
Về việc kết hôn, tài sản, nợ chung và con chung: Lời khai của anh T nhất trí như lời khai của chị T đã trình bày tại Tòa án.
Về yêu cầu ly hôn: Anh T nhận thấy quá trình chung sống có xảy ra một vài mâu thuẫn, anh vẫn còn yêu thương gia đình nên không đồng ý ly hôn. Nếu ly hôn, về nuôi con thì đề nghị Tòa án giao con cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng cho con anh và chị T sẽ tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Chị T và anh T đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 4 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, chị T và anh T không sống cùng nhau nên không thể chăm sóc vun đắp tình cảm cho nhau, tình cảm của chị T dành cho anh T không còn nữa, hôn nhân không có hạnh phúc làm cho mục đích của hôn nhân không đạt được. Về con chung: Giữa hai người có một con tên là Đặng Bảo N, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2018, hiện tại con đang sinh sống cùng với mẹ. Chị T có đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng. Tại phiên tòa, anh T đồng ý với đề nghị của chị T. Về tài sản và nợ chung: Chị T và anh T trình bày là không có tài sản và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Từ những phân tích đánh giá trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T. Về con chung: giao con Đặng Bảo N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
Về hôn nhân: Giữa chị T và anh T kết hôn với nhau tự nguyện, đã đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 4 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.
Chị T và anh T không chung sống với nhau nên không thể quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không thể cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nên tình cảm của chị T dành cho anh T không còn nữa. Do vậy, hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho chị T ly hôn anh T là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con: Giữa chị T và anh T có một con chưa thành niên tên là Đặng Bảo N, hiện tại con đang sinh sống cùng với mẹ. Chị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con. Anh T có đề nghị về nuôi con thì giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng cho con sẽ thỏa thuận với chị T. Xem xét về điều kiện nuôi con, chị T có việc làm ổn định và thu nhập hằng tháng đảm bảo cuộc sống cho con. Căn cứ quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình thì con sẽ được giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng cho con: Chị T không yêu cầu anh Tuấn phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết về cấp dưỡng cho con.
Về tài sản và nợ chung: Chị T và anh T trình bày là không có tài sản và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết về tài sản.
Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án. Chị T có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị T và anh T có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.
Vĩ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho chị Đinh Phương T ly hôn anh Đặng Công T.
2. Về nuôi con: Giao cho chị Đinh Phương T trực tiếp nuôi dưỡng con Đặng Bảo N, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2018 cho đến khi trưởng thành.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: không giải quyết.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con và trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Chị Đinh Phương T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Nam Định theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004081 ngày 02 tháng 3 năm 2023, chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; anh T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện Kiểm sát ND huyện Mỹ Lộc; - Tòa án ND tỉnh Nam Định; - Viện Kiểm sát ND tỉnh Nam Định; - Chi cục Thi hành án DS huyện L; - Ủy ban ND xã P, huyện K, tỉnh Hà Nam; - Lưu: hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Trần Đức Cường |