- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án xử ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Dơng Thị H ly hôn anh Ninh Khánh D.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13-02-2023 V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thị Mai
2. Ông Bùi Thế Vịnh
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 481/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm 1986.
ĐKHKTT: Thôn Ruồng Cái, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Chỗ ở hiện nay: Thôn Tây Lò, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Ninh Khánh D, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Thôn Ruồng Cái, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
(Chị H, anh D có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Dơng Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Ninh Khánh D vào ngày 18/10/2007, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đào Mỹ theo quy định pháp luật. Trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau ngày cưới chị về gia đình anh D làm dâu ngay.
Vợ chồng sống hoà thuận, H phúc với nhau được mấy năm đầu tiên thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Mặt khác, anh D là người lười lao động, ham chơi đua đòi với bạn bè dẫn đến nghiện ma túy. Chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh D không thay đổi. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng xảy ra thường xuyên, trầm trọng hơn, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không còn H phúc. Do không thể chung sống được cùng anh D nên từ tháng 9/2022 chị đưa hai con chung về nhà mẹ đẻ ở hẳn cho đến nay. Từ đó vợ chồng sống ly thân, không quan tâm hay liên lạc gì với nhau. Nay chị xác định bản thân không còn tình cảm với anh D, mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, nên chị giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh D.
Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là Ninh Đình Vũ, sinh ngày 10/8/2008 và Ninh Thị Khánh Huyền, sinh ngày 27/3/2011. Hiện hai con chung đang do chị nuôi Dỡng và các cháu vẫn khỏe mạnh, phát triển bình thường. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi Dỡng 02 con chung, không yêu cầu anh D phải cấp Dỡng nuôi con chung. Bản thân chị có đủ điều kiện để nuôi con, hiện chị đi làm công nhân may ở công ty gần nhà có thu nhập ổn định, sau khi ly hôn chị và hai con tiếp tục sinh sống ở nhà mẹ đẻ của chị.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Ninh Khánh D trình bày: Anh xác nhận về thời gian, điều kiện kết hôn giữa hai vợ chồng như chị H trình bày là đúng. Vợ chồng chung sống cùng nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng, kể từ tháng 9/2022 chị H bỏ về ngoại ở hẳn, vợ chồng sống ly thân từ đó không còn quan tâm hay liên lạc gì với nhau. Nay chị H xin ly hôn, anh nhất trí. Anh từ chối hoà giải và xin vắng mặt tại các buổi làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ và xét xử.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung đúng như chị H trình bày. Sau khi ly hôn, anh đồng ý để chị H được trực tiếp nuôi Dỡng 02 con chung. Về cấp Dỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã lấy lời khai của 02 con chung; ngày 10/01/2023, Tòa án đã mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
* Tại phiên toà:
Nguyên đơn chị Dơng Thị H, bị đơn anh Ninh Khánh D có đơn xin vắng mặt tại phiên toà. Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX: Cho chị H được ly hôn anh D; Về con chung: Giao 02 cháu Ninh Đình Vũ, sinh ngày 10/8/2008 và Ninh Thị Khánh Huyền, sinh ngày 27/3/2011 cho chị H nuôi Dỡng. Về cấp Dỡng nuôi con: Chị H, anh D không yêu cầu cấp Dỡng nên anh D không phải cấp Dỡng; Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Do chị H, anh D đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị Dơng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Dơng Thị H làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lạng Giang giải quyết cho chị được ly hôn anh Ninh Khánh D. Chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú giải quyết là đúng theo quy định pháp luật. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh D, yêu cầu được nuôi con chung. Căn cứ Điều 51, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý, giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
Sự vắng mặt của các đương sự: Chị H, anh D đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà; chị H, anh D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị H và anh D đăng ký kết hôn ngày 18/10/2007 tại UBND xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương nên xác định là hôn nhân giữa chị H và anh D là hợp pháp.
Quá trình chung sống, bản thân chị H và anh D đều xác định trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách và quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không bảo ban được nhau; vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 9/2022 đến nay, không còn quan tâm tới nhau. Nay chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng, đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn; anh D đồng ý ly hôn. Do đó, có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị H được ly hôn anh D.
Về quan hệ con chung: Chị H và anh D có 02 con chung là Ninh Đình Vũ, sinh ngày 10/8/2008 và Ninh Thị Khánh Huyền, sinh ngày 27/3/2011. Chị H và anh D đều có ý kiến sau khi ly hôn để chị H trực tiếp nuôi Dỡng 02 con chung; bản thân cháu Vũ và cháu Huyền đều trình bày có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, cần giao 02 con chung cho chị H trực tiếp nuôi Dỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp Dỡng nuôi con chung: Anh D không phải cấp Dỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi Dỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung nên Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp cấp Dỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H, anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử :
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Dơng Thị H ly hôn anh Ninh Khánh D.
2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung là Ninh Đình Vũ, sinh ngày 10/8/2008 và Ninh Thị Khánh Huyền, sinh ngày 27/3/2011 cho chị Dơng Thị H trực tiếp nuôi Dỡng.
Anh Ninh Khánh D không phải cấp Dỡng nuôi con chung.
Anh Ninh Khánh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Dơng Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000966 ngày 23/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị Dơng Thị H đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Dơng Thị H, anh Ninh Khánh D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Bắc Giang; - Chi cục THADS huyện Lạng Giang; - TAND tỉnh Bắc Giang; - UBND xã Đào Mỹ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Mai Lan |