vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b đoạn 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09/06/2000, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/06/2014;

Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Kửu và anh Đào Văn Toan. Buộc chị Nguyễn Thị Kửu phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Điểm b đoạn 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09/06/2000, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/06/2014;
  • Căn cứ chính? Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự Tuyên bố; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự Tuyên bố; Luật Hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ–ST
Ngày: 23 – 06 – 2023
V/v: Ly hôn, phân chia tài sản của gia đình
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nhưng, bà Trần Thị Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thăng Long – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 06 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 03 năm 2023 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 02 tháng 06 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kửu

Sinh ngày: 06 tháng 10 năm 1976; Địa chỉ cư trú: Thôn Bnơ B, thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng

Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Đào Văn Toan

Sinh ngày: 10 tháng 08 năm 1974; Địa chỉ cư trú: Thôn Tân Phan, xã Kỳ Giang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo lời khai của chị Nguyễn Thị Kửu, lời khai của anh anh Đào Văn Toan, Giấy chứng nhận kết hôn lập ngày 22/07/1996 của Ủy ban Nhân dân xã Kỳ Đồng, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và Biên bản xác minh lập ngày 20/03/2023 của Tòa án Nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh thì: Ngày 22/07/1996 chị Nguyễn Thị Kửu và anh Đào Văn Toan đã cùng nhau đến Ủy ban Nhân dân xã Kỳ Đồng, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để đăng ký kết hôn, nhưng thủ tục đăng ký kết hôn vẫn chưa được hoàn tất, anh Toan đã ký vào giấy chứng nhận kết hôn nhưng chị Kửu vẫn chưa ký vào giấy chứng nhận kết hôn và Ủy ban nhân dân xã Kỳ Đồng vẫn chưa ghi tên chị Kửu và anh Toan vào sổ đăng ký kết hôn của Ủy ban Nhân xã. Tuy nhiên, sau đó chị Kửu và anh Toan vẫn tổ chức lễ cưới và về chung sống với nhau như vợ chồng tại xã Kỳ Giang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, cùng nhau sinh con và tạo lập kinh tế gia đình. Đến tháng 5 năm 2018 do vợ chồng mâu thuẫn, cuộc sống chung không hòa hợp nên chị Kửu đã bỏ đi vào tỉnh Lâm Đồng sinh sống. Từ đó đến nay vợ chồng ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa.

Quá trình chung sống chị Kửu và anh Toan có 2 con chung là Đào Trọng Lịch, sinh ngày 20/04/1997 và Đào Thị Mỹ Dung, sinh ngày 20/08/1999. Hiện nay cả 2 con đều đã trên 18 tuổi.

Trong đơn khởi kiện đề ngày 01/03/2023 chị Kửu yêu cầu được ly hôn. Tại đơn trình bày ý kiến ngày 20/03/2023 anh Toan cũng đồng ý ly hôn với chị Kửu

Tại phiên tòa chị Kửu và anh Toan đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, trong đơn vẫn tiếp tục giữ nguyên các yêu cầu, ý kiến ban đầu của mình.

Phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Tòa án căn cứ điểm b đoạn 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09/06/2000, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/06/2014 không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Kửu và anh Toan.

Vị đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Đây là vụ án ly hôn, bị đơn có địa chỉ cư trú trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; vụ án không có yếu tố nước ngoài, cho nên theo quy định tại các Điều 26, 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh - tỉnh Hà Tĩnh.

Quá trình thu thập, công khai, đánh giá, xem xét chứng cứ, chuẩn bị xét xử và tiến hành tố tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh – tỉnh Hà Tĩnh thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thời hạn luật định, đảm bảo đầy đủ quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát cũng như các quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, Những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại và vị đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến kiến nghị nào.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa vắng mặt cả chị Kửu và anh Toan, tuy nhiên nhiên chị Kửu và anh Toan đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

. Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù chị Nguyễn Thị Kửu và anh Đào Văn Toan đã cùng nhau đến Ủy ban Nhân dân xã Kỳ Đồng, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để đăng ký kết hôn, nhưng thủ tục đăng ký kết hôn vẫn chưa được hoàn tất, anh Toan đã ký vào giấy chứng nhận kết hôn nhưng chị Kửu vẫn chưa ký vào giấy chứng nhận kết hôn và Ủy ban nhân dân xã Kỳ Đồng vẫn chưa ghi tên chị Kửu, anh Toan vào sổ đăng ký kết hôn của Ủy ban Nhân xã, cho nên mối quan hệ hôn nhân của chị Kửu – anh Toan vẫn là quan hệ nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Căn cứ điểm b đoạn 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09/06/2000, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/06/2014 Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Kửu và anh Toan.

. Về con: Chị Kửu và anh Toan có 2 con chung là Đào Trọng Lịch, sinh ngày 20/04/1997 và Đào Thị Mỹ Dung, sinh ngày 20/08/1999. Hiện nay cả 2 con đều đã trên 18 tuổi, cho nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết việc giao con cho chị Kửu hoặc anh Toan trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, không xem xét xét giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của chị Kửu, anh Toan

. Về tài sản: Chị Kửu và anh Toan không yêu cầu Tòa án phân chia, Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo, chị Kửu phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005380 ngày 02/03/2023.

. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, chị Kửu, anh Toan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm b đoạn 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09/06/2000, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/06/2014;

- Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo;

- Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự

Tuyên bố:

- Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Kửu và anh Đào Văn Toan.

- Buộc chị Nguyễn Thị Kửu phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005380 ngày 02/03/2023, tiền án phí chị Nguyễn Thị Kửu đã nộp đủ.

Chị Nguyễn Thị Kửu, anh Đào Văn Toan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Cỡ chữ