vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Vang Văn D, xử cho anh Vang Văn D được ly hôn với chị Lương Thị N. Về con chung: Giao cháu Vang Anh B– SN: 06/02/2015 cho anh Vang Văn D nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh D không được quyền ngăn cản chị Lương Thị N đến thăm nom chăm sóc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Vang Văn D với chị Lương Thị N"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA SÚP
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày 19 - 05 - 2023
V/v tranh chấp hôn nhân và
gia đình.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Quốc Chinh

Các Hội thẩm nhân dân gồm có: Bà Bùi Việt Nga

Bà Nguyễn Thị Hồng

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Ea Súp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa: Ông Lê Quý Tỉnh – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 05 năm 2023 tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Ea Súp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 04 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 05 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Vang Văn D– SN: 1996

Địa chỉ: Thôn 07, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

Bị đơn: Chị Lương Thị N– SN: 1998

Địa chỉ: Thôn 07, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 25/10/2022, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và lời khai tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Vang Văn D trình bày:

Tôi và chị Lương Thị N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk ngày 12/08/2016. Trong thời gian đầu vợ chồng tôi chung sống với nhau rất hạnh phúc. Chúng tôi đã có 01 con chung Vang Anh B– SN: 06/02/2015 nhưng thời gian sau chúng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Do vợ, chồng tính tình không hợp và bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, dẫn đến cãi nhau, nhất là vấn đề tình cảm. Tôi thấy tình cảm giữa tôi và chị Lương Thị N không còn, nếu cứ kéo dài hôn nhân sẽ không có hạnh phúc nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với chị Lương Thị N.

Về con chung: Anh và chị Lương Thị N không có con nuôi, con riêng, anh chị có 01 con chung Vang Anh B– SN: 06/02/2015. Nay ly hôn anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cháu cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh không yêu cầu chị Lương Thị N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Lương Thị N, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập thông qua UBND xã I, niêm yết thông báo tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử tại UBND xã I, tại nhà chị Lương Thị N và tại Tòa án huyện Ea Súp tuy nhiên chị N đều vắng mặt tại Tòa án không lý do. Do vậy chị Lương Thị N không thể hiện quan điểm của mình trong vụ án.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 13 tháng 04 năm 2023 nguyên đơn đã được tiếp cận công khai chứng cứ, thống nhất với chứng cứ đã được công khai và không thay đổi bổ sung đơn khởi kiện hay nộp chứng cứ gì mới, không yêu cầu triệu tập đương sự khác đến tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt, nguyên đơn không có ý kiến tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 96, 97, 98, 175, 176, 197, 198, 204 và 220 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

Về chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn Tòa án đã tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên bị đơn vẫn vắng mặt.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 53, 81, 82, 83, 84 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân chấp nhận đơn khởi kiện của anh Vang Văn D, xử cho anh Vang Văn D được ly hôn với chị Lương Thị N, về con chung giao con chung Vang Anh B cho anh Vang Văn D nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chấp nhận sự tự nguyện của anh D không yêu cầu chị Lương Thị N phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Vang Văn D khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Lương Thị N có nơi cư trú thôn 07, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án huyện Ea Súp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục: Đối với bị đơn chị Lương Thị N trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập thông qua UBND xã I, niêm yết thông báo tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa tại UBND xã I, tại nhà chị Lương Thị N và tại Tòa án huyện Ea Súp đồng thời liên hệ qua số điện thoại của chị N, tuy nhiên chị Lương Thị N không hợp tác, không có mặt tại Tòa án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xử vắng mặt.

Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy anh Vang Văn D và chị Lương Thị N tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 12 tháng 08 năm 2016 đúng theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa anh Vang Văn D và chị Lương Thị N là hợp pháp. Trong thời gian chung sống anh D, chị N nảy sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do anh, chị tính tình không hợp, nhất là vấn đề tình cảm nên anh D và chị N đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho tới nay. Xét tình cảm, hạnh phúc của anh D và chị N không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của anh D, xử cho anh Vang Văn D được ly hôn với chị Lương Thị N.

Về con chung: Hội đồng xét xử nhận thấy anh D và chị N không có con nuôi, con riêng anh chị có 01 con chung Vang Anh B– SN: 06/02/2015. Nay anh D có nguyện vọng nuôi con, xét yêu cầu nuôi con của anh D, nhận thấy anh D hiện làm công nhân thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng và anh là người trực tiếp nuôi cháu B cho tới nay, có nơi cư trú ổn định, có điều kiện chăm sóc giáo dục con, đối với chị N thường vắng nhà, không quan tâm con chung nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để giao con chung cho chị N nuôi dưỡng mà cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của anh Vang Văn D, giao cháu Vang Anh B cho anh D nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp. Về cấp dưỡng anh D không yêu cầu chị Lương Thị N cấp dưỡng nuôi con nên chị Lương Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ: Anh D và chị N không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án. Anh Vang Văn D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, 266, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Vang Văn D, xử cho anh Vang Văn D được ly hôn với chị Lương Thị N.

Về con chung: Giao cháu Vang Anh B– SN: 06/02/2015 cho anh Vang Văn D nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh D không được quyền ngăn cản chị Lương Thị N đến thăm nom chăm sóc con chung.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Chị Lương Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Vang Văn D và chị Lương Thị N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản, công nợ: Anh Vang Văn D và chị Lương Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Vang Văn D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh D đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện E theo biên lai thu số 0010238 ngày 26/10/2022.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể tử ngày niêm yết bản án.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ