vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị D - Tòng VănT"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H N Đ N
N Đ NG
TỈNH Đ N
N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 28-6-2023
V/v: T
ly hôn,
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘ CHỦ NGHĨA V T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN H N Đ N N Đ NG, TỈNH Đ N N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

T ẩm á - C ủ tọ iê tò : Ông Lê Hồng Quang.

Cá Hội t ẩm â dâ : Bà Nguyễn Thị Hường; ông Cà Mạnh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên;

- ại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện iện Biên ông, t nh iện Biên tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 20/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị D, sinh năm: 1990;

Nơi cư trú: Bản Gi, xã LGi, huyện ĐBĐ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Tòng Văn T, sinh năm: 1986;

Nơi cư trú: Bản Gi, xã LGi, huyện ĐBĐ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘ D NG VỤ ÁN:

Tại đơ k ởi kiệ gày 31/3/2023 và t o g quá t ì xét xử, Nguyê đơ ị Lò T ị D trình bày:

[1]. Về qu

ệ hôn nhân: Chị Lò Thị D và anh Tòng Văn T lấy nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục năm 2005 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên ngày 06/3/2013. Chung sống và kết hôn tự nguyện. Cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc. Đến đầu năm 2022 cuộc sống vợ chồng phát sinh sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung, hai bên gia đình nhiều lần khuyên giải nhưng mâu thuẫn vẫn kéo dài. Chị D và anh T đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay. Hiện chị D thấy không còn tình cảm với anh T nữa. Do vậy, chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tòng Văn T.

[2]. Về o chung, con riêng: Chị D và anh T có 02 con chung là các cháu Tòng Khắc Đ, sinh ngày: 10/3/2006 và cháu Tòng Đình V, sinh ngày: 06/3/2012. Sau khi ly hôn chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu theo nguyện vọng của các cháu. Chị D không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

[3]. Về tài sả : Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơ anh Tò g Vă T: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông đã cử cán bộ đi tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 20/TB-TLVA, ngày 03 tháng 4 năm 2023 cho bị đơn anh Tòng Văn T tuy nhiên tại thời điểm cán bộ Tòa án xuống tống đạt văn bản tố tụng thì anh Tòng Văn T không có mặt ở nhà. Tòa án đã tiến hành xác minh, chính quyền địa phương cho biết anh T là công dân cư trú tại bản Giói A, xã Luân Giói tuy nhiên anh T thường xuyên vắng mặt tại địa phương, thi thoảng anh T vẫn về nhưng thời gian không cố định.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông đã tiến hành niêm yết các thủ tục theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, anh Tòng Văn T có mặt và trình bày quan điểm như sau:

Về hôn nhân: anh T không đồng ý ly hôn với chị D.

Về con chung: Các con đều đã trên 7 tuổi do đó các con muốn ở với bố hay mẹ đều do các cháu quyết định. Không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng; nợ chung, riêng: anh T không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Người ó quyề và lợi í đượ bảo vệ: Các cháu Tòng Khắc Đ, sinh ngày: 10/3/2006 và cháu Tòng Đình V, sinh ngày: 06/3/2012 có đơn đề nghị gửi đến Tòa án thể hiện nguyện vọng của các cháu là được ở với mẹ.

Tại iê tò , đại diệ Việ kiểm sát â dâ uyệ Điệ Biê Đô g, tỉ Điệ Biê át biểu ý kiế :

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chị Lò Thị D cho chị D được ly hôn anh Tòng Văn T. Giao các cháu Tòng Khắc Đ, sinh ngày: 10/3/2006 và cháu Tòng Đình V, sinh ngày: 06/3/2012 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị D.

Tại phiên tòa hôm nay chị Lò Thị D vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giải quyết việc nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản như nội dung đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình hỏi tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lò Thị D đối với anh Tòng Văn T và các tài liệu, chứng cứ kèm theo của nguyên đơn chị Lò Thị D, Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn”.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn thường trú tại bản G, xã LGi, huyện ĐBĐ, tỉnh Điện Biên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về điều luật áp dụng: Chị D và anh T lấy nhau và đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên ngày 06/3/2013, Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn ngày 06/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Việc kết hôn trên tinh thần tự nguyện các bên kết hôn khi đã đủ điều kiện kết hôn. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T là hợp pháp. Hiện tại chị D không còn tình cảm với anh T. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị D và anh T là do bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau nội dung này đã được chính quyền địa phương xác nhận. Hiện chị D thấy không còn tình cảm với anh T, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa anh T cũng khẳng định chị D không còn yêu thương anh T nữa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định việc chị D cho rằng hai vợ chồng không còn hạnh phúc, chị D không còn tình cảm với anh T là đúng. Xét tình trạng thực tế giữa hai vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định chị D và anh T đã sống ly thân, không cùng chung sống nuôi dạy con cái, vun vén hạnh phúc gia đình. Do đó, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị D, giải quyết cho chị Lò Thị D ly hôn với anh Tòng Văn T.

. Về con chung, con riêng: Chị D và anh T có 02 con chung là các cháu Tòng Khắc Đ, sinh ngày: 10/3/2006 và cháu Tòng Đình V, sinh ngày: 06/3/2012. Chị D có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu vì hiện tại các cháu còn nhỏ tuổi, việc cấp dưỡng nuôi con chị D không yêu cầu giải quyết. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu và đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của trẻ cũng như xét theo nguyện vọng của các cháu và ý kiến của anh T cũng tôn trọng nguyện vọng của các cháu, Hội đồng xét xử thấy yêu cầu và nguyện vọng của chị D là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật, nên căn cứ các quy định tại Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 giao cả 02 cháu cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị D không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đề cập xem xét. Anh T có quyền đi lại thăm nom, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể được thay đổi theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình 2014 khi có yêu cầu.

. Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Chị Lò Thị D và anh Tòng Văn T không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Án phí: Quá trình giải quyết vụ án chị Lò Thị D có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí. Tại phiên tòa, chị tiếp tục đề nghị HĐXX xem xét miễn tiền án phí DSTT cho chị, bởi vì, bản thân và gia đình chị là người dân tộc Thái đang cư trú tại Bản Gi, xã LGi, huyện ĐBĐ nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị D là phù hợp.

Vì á lẽ t ê ,

Q ẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 69; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn chị Lò Thị D được ly hôn với bị đơn anh Tòng Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung là các cháu Tòng Khắc Đ, sinh ngày: 10/3/2006 và cháu Tòng Đình V, sinh ngày: 06/3/2012 cho chị Lò Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Chị Lò Thị D không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

Quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể được thay đổi theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình 2014 khi có yêu cầu.

3. Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương. Chị Lò Thị D và anh Tòng Văn T không đề nghị Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lò Thị D được miễn án phí DSST.

5. Về quyền kháng cáo:

Chị Lò Thị D và anh Tòng Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/6/2023)./.

T.M HỘ ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ