vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Cẩm T và anh Nguyễn Quốc Đ được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hạo Th, sinh ngày 18/12/2018 cho chị Võ Thị Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Th tròn 18 tuổi. Buộc anh Nguyễn Quốc Đ phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hạo Th, sinh ngày 18/12/2018 mỗi tháng 745.000 đồng, đến khi cháu Th tròn 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Cẩm T-Nguyễn Quốc Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Cẩm T và anh Nguyễn Quốc Đ được ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10-02-2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Ngô Huỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bỉnh

2. Ông Đặng Thành Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Mộng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 233/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2022/QĐST - HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Cẩm T, sinh năm 1997 (có mặt)

Trú tại: ấp Đ, xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Trú tại: ấp Đ, xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn chị Võ Thị Cẩm T trình bày: Chị và anh Nguyễn Quốc Đ chung sống vào năm 2016, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, do thường hay bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 4 năm 2022. Do không còn tình cảm chị T yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hạo Th, sinh ngày 18/12/2018, cháu Th đang sống với chị T. Chị T yêu cầu nuôi con, và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi con trưởng thành.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có

Anh Nguyễn Quốc Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn anh Nguyễn Quốc Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Cẩm T và anh Nguyễn Quốc Đ tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo quy định vào năm 2016, nên được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của chị Thu thì thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Do thường xuyên bất hòa, không có tiếng nói chung, đời sống vợ chồng không có hạnh phúc. Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến gì với cuộc hôn nhân của anh, điều đó chứng tỏ anh Đ đã bỏ mặc, không có động thái hàn gắn cuộc hôn nhân của anh. Do chị T, anh Đ mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chị T yêu cầu là có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung: Quá trình sống chung chị T và anh Đ có 01 người con chung dưới 18 tuổi và đang sống chung với chị T. Qua xác minh tại địa phương chị T có điều kiện để nuôi con. Hơn nữa cháu Th đã sống với chị T từ nhỏ, và để không làm xáo trộn của sống của cháu Th, nên Hội đồng xét xử giao con chung cho chị T nuôi dưỡng. Tại phiên tòa chị T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Căn cứ vào khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Vì vậy, buộc anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng tương đương ½ tháng lương cơ sở là 745.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng.

Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Quốc Đ phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Cẩm T và anh Nguyễn Quốc Đ được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hạo Th, sinh ngày 18/12/2018 cho chị Võ Thị Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Th tròn 18 tuổi.

Buộc anh Nguyễn Quốc Đ phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hạo Th, sinh ngày 18/12/2018 mỗi tháng 745.000 đồng, đến khi cháu Th tròn 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Cẩm T phải chịu là 300.000 đồng, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị T đã đóng theo biên lai số 0010692 ngày 02 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị T đã đóng xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Quốc Đ phải chịu 300.000 đồng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ