vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ly Thị S.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ly Thị S được ly hôn anh Vàng Thành C. Mối quan hệ hôn nhân của chị Ly Thị S và anh Vàng Thành C được chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho chị Ly Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Kim Ng, sinh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly Thị S - Vàng Thành C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ly Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 14 - 7 -2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Thanh

+ Bà Trần Thị Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Ngô Anh Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 45/2023/TLST-HNGĐ, ngày 30 tháng 05 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXX- ST, ngày 28 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Ly Thị S - sinh năm:1997.

2.Bị đơn: Anh Vàng Thành C - sinh năm 1987

Đều trú tại: Thôn Dì Th, xã Thải Giàng Ph, huyện B, tỉnh Lào Cai – Đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn nhận ngày 29 tháng 5 năm 2023 và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn chị Ly Thị S trình bày: Chị và anh C về chung sống với nhau từ năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, không tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Đến ngày 20/7/2016 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Thải Giàng Ph, huyện B, tỉnh Lào Cai. Trong quá trình chung sống anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, mỗi người một ý kiến khác nhau trong quan điểm làm ăn, anh C mải chơi, không quan tâm đến vợ con, chị đã góp ý nhiều lần nhưng anh C không chịu thay đổi, lâu dần tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi, chửi nhau. Khi anh chị xảy ra mâu thuẫn đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuốc sống chung không có hạnh phúc. Đến tháng 4 năm 2023 chị S đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị và anh C ngày càng trầm trọng, tình cảm không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Nên chị S làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vàng Thành C.

Tại bản tự khai ngày 30 tháng 5 năm 2023 bị đơn anh Vàng Thành C trình bày: Anh hoàn toàn nhất trí về thời gian kết hôn, quá trình chung sống như chị S trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh và chị S là do từ khi chị S đi làm thuê ở công ty về thì bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong làm ăn, phát triển kinh tế và cách nuôi dạy con cái. Nhưng chưa xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Anh không hiểu vì lý do gì từ ngày 21 tháng 4 năm 2023 chị S bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở và không về nhà, anh đã đi đón nhiều lần, nhưng chị S không chịu về nhà, anh vẫn còn tình cảm với chị S, anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ gia đình để cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành. Nay chị S làm đơn xin ly hôn anh, anh xét thấy tình cảm giữa anh và chị S vẫn còn, nên anh không nhất trí ly hôn.

- Về nuôi con khi ly hôn: Chị S và anh C đều thừa nhận trong thời gian sống chung có 02 con chung là cháu lớn là Vàng Kim Tr, sinh ngày 04 tháng 03 năm 2016. Cháu nhỏ là Vàng Kim Ng, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2019. Hiện nay các cháu đang sống cùng với anh C, các cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường.

Khi ly hôn chị S đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi hai cháu Ng, còn anh C nuôi dưỡng cháu Tr, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Vàng Thành Công mong muốn vợ chồng về đoàn tụ gia đình. Nếu chị S kiên quyết ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cả hai cháu, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh yêu cầu chị S phải cấp dưỡng nuôi cháu Ng mỗi tháng 2.000.000 đồng, cho đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị S và anh C không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôn nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử xử:

+ Về hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình: Chị Ly Thị S được ly hôn anh Vàng Thành C.

+ Về con chung: Căn cứ Điều 81,Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình: Giao cho chị Ly Thị S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Kim Ng, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2019. Giao cho anh Vàng Thành C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Kim Tr, sinh ngày 04 tháng 03 năm 2016, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí và quyền kháng cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật

Tại phiên tòa chị S vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn và đề nghị giải quyết về nuôi con chung. Anh C vẫn giữ nguyên quan điểm xin được đoàn tụ gia đình và xin được nuôi cả hai con, không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Chị Ly Thị S khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vàng Thành C, giải quyết về nuôi con chung khi ly hôn. Anh C có hộ khẩu thường trú tại thôn Dì Th, xã Thải Giàng Ph, huyện B, tỉnh Lào Cai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ly Thị S và anh Vàng Thành C về chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2015, được hai bên gia đình đồng ý, nhưng không tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, đến ngày 20 tháng 7 năm 2016 anh chị đã đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã Thải Giàng Ph, huyện B. Trong quá trình sống chung anh chị sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng ý kiến trong việc phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy con cái, trong cuộc sống anh chị chưa có sự cảm thông, chia sẻ cho nhau những khó khăn. Anh C mải chơi, chưa thực sự quan tâm đến vợ, con. Giữa hai anh chị đã xảy ra xính mích cãi, chửi lẫn nhau. Từ những nguyên nhân đó dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, khi anh chị xảy ra mâu thuẫn đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Chị S và anh C đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị S làm đơn xin ly hôn anh C. Anh C xét thấy mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, tình cảm vẫn còn, nên anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ gia đình để cùng nhau nuôi dạy con cái, anh không nhất trí ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa chị S và anh C rất khó dung hòa tình cảm vợ chồng, gia đình đã khuyên giải và Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện tại anh chị đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Như vậy, đã đủ thấy rằng mâu thuẫn giữa hai anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử cho chị S được ly hôn với anh C là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Quan hệ hôn nhân của chị Ly Thị S và anh Vàng Thành C được chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về nuôi con khi ly hôn: Cả hai anh chị đều thừa nhận có 02 con chung. Cháu lớn là Vàng Kim Tr, sinh ngày 04 tháng 03 năm 2016; cháu nhỏ là Vàng Kim Ng, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2019. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng với anh Công, các cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị S và anh C đều có nguyện vọng xin được nuôi con, chị S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, còn anh C yêu cầu chị S phải cấp dưỡng nuôi cháu Ng mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hỏi ý kiến của cháu Tr thì cháu có nguyện vọng muốn được sống cùng với anh C, cháu Ng còn nhỏ. Chị S làm nghề tự do, còn anh C là giáo viên có mức thu nhập cao hơn chị S, nhưng cả hai anh chị đều có điều kiện để nuôi dạy con trưởng thành và đảm bảo cho sự phát triển của các cháu. Tuy nhiên, xét điều kiện hiện tại anh C có nguyện vọng xin được nuôi cả hai cháu và yêu cầu chị S phải cấp dưỡng nuôi cháu Ng mỗi tháng là 2.000.000 đồng, tại phiên tòa anh C không đề nghị chị S phải cấp dưỡng nuôi con chung là không phù hợp với quy định của pháp luật. Hơn nữa, anh C là giáo viên đi làm xa nhà không đảm bảo được việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và lo toan cuộc sống sinh hoạt hàng ngày cho cả hai cháu được. Mặt khác, xét thấy cháu Ng còn nhỏ, là con gái cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ nhiều hơn bố. Xét nguyện vọng của chị S xin được nuôi cháu Ng, còn anh C nuôi cháu Tr và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn phù hợp với quy định của Pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu Tr. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các cháu Tr và Ng, cũng như trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình cần giao cho chị Ly Thị S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Kim Ng, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2019. Giao cho anh Vàng Thành C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Kim Tr, sinh ngày 04 tháng 03 năm 2016, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Ly Thị S và anh Vàng Thành C không đề nghị Toà án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ly Thị S phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Về quyền kháng cáo: Chị Ly Thị S và anh Vàng Thành C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ly Thị S.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Ly Thị S được ly hôn anh Vàng Thành C. Mối quan hệ hôn nhân của chị Ly Thị S và anh Vàng Thành C được chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2.Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho chị Ly Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Kim Ng, sinh ngày 30 tháng 12 năm 2019. Giao cho anh Vàng Thành C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Kim Tr, sinh ngày 04 tháng 03 năm 2016, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Ly Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng) tiền án

̀ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân sự sơ

́ thẩm đa nô ̣̃ p là 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng), theo biên lai số 0004099, ngày 30

̀

tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B ắc Hà. Chị S đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, Chị S, anh C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ