vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Đắc G. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đắc G.

2/ Về con chung: Có ba con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh ngày 17/12/2008; Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 07/07/2010 và Nguyễn Đắc Gia B, sinh ngày 05/03/2018. Giao cả ba con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, Nguyễn Thị Phương T và Nguyễn Đắc Gia B cho chị Nguyễn Thị H được chăm sóc nuôi d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Nguyễn Đắc G"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Đắc G. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đắc G.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09/01/2023
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Huy; Ông Lê Văn Hoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì,

thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Út - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09/01/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 457/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2022/QĐXX-ST ngày 13 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2022/QĐ-ST ngày 29 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn B, thị trấn TĐ, huyện Ba Vì, t.p Hà Nội.

+ Bị đơn: Anh Nguyễn Đắc G, sinh năm 1982

Địa chỉ: Thôn PC, xã PC, huyện Ba Vì, t.p Hà Nội.

(Chị H có mặt, anh G vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 10/10/2022, bản tự khai ngày 17/10/2022 Chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với Anh Nguyễn Đắc G trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã PC, huyện Ba Vì, ngày 04/7/2008. Sau khi kết hôn chị H và anh G về chung sống tại gia đình anh G ở thôn Phong Châu, xã PC, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 10 năm thì đến năm 2018 mâu thuẫn phát sinh, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh G thường xuyên ham chơi cờ bạc, không chịu tu chí làm ăn, nợ nần chồng chất, vợ chồng thường xuyên cãi chửi, xô xát, khiến cuộc sống chung vô cùng bế tắc căng thẳng. Chị H và anh G sống ly thân từ cuối năm 2019 cho đến nay. Nay Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn anh Nguyễn Đắc G.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị H xác định vợ chồng có ba con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh ngày 17/12/2008; Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 07/07/2010 và Nguyễn Đắc Gia B, sinh ngày 05/03/2018. Chị H tôn trọng nguyện vọng của cháu Tr và cháu T do các cháu đều đã trên 7 tuổi. Nếu cháu Tr và cháu T muốn chung sống cùng chị H thì chị H cũng xin được nhận nuôi dưỡng các cháu đến khi đủ 18 tuổi. Chị H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đắc Gia B đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Chị H không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về Tài sản chung, công sức, tài sản riêng, nợ chung: Chị H xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 27/10/2022, cháu Nguyễn Thị Huyền Tr và cháu Nguyễn Thị Phương T đều trình bày: Nguyện vọng nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu xin được ở với mẹ cháu là chị Nguyễn Thị H.

Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ nhiều lần nhưng anh Nguyễn Đắc G đều vắng mặt không có lý do. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Đắc G, tống đạt thông báo thụ lý và các giấy triệu tập đương sự, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Anh G đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng không chấp hành pháp luật, vắng mặt không có lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, vụ án không tiến hành hòa giải được. Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đắc G tại xã PC.

Tại biên bản xác minh ngày 09/11/2022 đối với Ủy ban nhân dân xã PC và biên bản lấy lời khai ngày 09/11/2022 của ông Nguyễn Thanh H2 (bố đẻ anh Nguyễn Đắc G) đều cung cấp thông tin: Chị H và anh G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn hợp pháp vào năm 2008 và cùng chung sống tại thôn Phong Châu, xã PC. Tuy nhiên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên mâu thuẫn, cãi chửi và xô xát. Nguyên nhân là do kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng không thông cảm, chia sẻ được với nhau, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay Chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên quan điểm của mìnhvề quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công nợ. Đối với anh Nguyễn Đắc G vắng mặt không lý do, Mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập tham gia phiên tòa.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử , Thư ký đều thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật; Hồ sơ đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự; Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

*Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật theo quy định tại điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án thụ lý đúng theo thẩm quyền quy định tại điều 35, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56,57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: Khoản 4 Điều 147, Điều 227,Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Nguyễn Thị H, cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Đắc G. Về con chung: có ba con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh ngày 17/12/2008; Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 07/07/2010 và Nguyễn Đắc Gia B, sinh ngày 05/03/2018. Ghi nhận nguyện vọng muốn tiếp tục được sống cùng mẹ của cháu Nguyễn Thị Huyền Tr và cháu Nguyễn Thị Phương T, đề nghị giao cả ba cháu Tr, Thảo và Nguyễn Đắc Gia B cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung đều đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Đắc G đến khi có yêu cầu, điều kiện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác. Về tài sản chung, công sức, tài sản riêng, công nợ: Chưa xem xét giải quyết trong vụ án. Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Đắc G có hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã PC, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, việc Tòa án nhân dân huyện Ba Vì thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đắc G ký kết hôn ngày ngày 04/7/2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã PC, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, là hợp pháp. Sau khi kết hôn chị H và anh G về chung sống tại gia đình anh G cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh G thường xuyên ham chơi cờ bạc, không chịu tu chí làm ăn, nợ nần chồng chất, vợ chồng thường xuyên cãi chửi, xô xát. Nay Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn anh Nguyễn Đắc G. Tại phiên tòa anh G vắng mặt không lý do, trong quá trình giải quyết vụ án anh G đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh G vẫn vắng mặt không lý do, do vậy anh G tự đánh mất, khước từ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được pháp luật bảo vệ. Xét nguyện vọng xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh G đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung của chị H và anh G không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đắc G là phù hợp và có căn cứ, đúng pháp luật.

Về con chung: có 03 con chung, cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh ngày 17/12/2008; Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 07/07/2010 và Nguyễn Đắc Gia B, sinh ngày 05/03/2018. Đối với cháu Nguyễn Thị Huyền Tr và cháu Nguyễn Thị Phương T đều có nguyện vọng bằng văn bản xin được tiếp tục sống cùng chị H nên HĐXX ghi nhận nguyện vọng của cháu Tr và cháu T. Đối với cháu Nguyễn Đắc Gia B tuổi còn nhỏ, cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ, bản thân chị H có công việc và thu nhập, có thể đảm bảo tốt các điều kiện cho các con chung phát triển bình thường. Nên HĐXX xem xét giao cả ba con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, Nguyễn Thị Phương T và Nguyễn Đắc Gia B cho chị Nguyễn Thị H được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng đến khi các con chung đều đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh G đến khi chị H có yêu cầu, anh G có điều kiện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác là phù hợp quy định pháp luật.

Về tài sản chung, công sức, tài sản riêng, công nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh G chưa có lời trình bày nên HĐXX xem xét giành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu là phù hợp quy định pháp luật.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227,Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Xử: 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Đắc G. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đắc G.

2/ Về con chung: Có ba con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh ngày 17/12/2008; Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 07/07/2010 và Nguyễn Đắc Gia B, sinh ngày 05/03/2018. Giao cả ba con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Tr, Nguyễn Thị Phương T và Nguyễn Đắc Gia B cho chị Nguyễn Thị H được chăm sóc nuôi dưỡng đến khi các con chung đều đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh G đến khi chị H có yêu cầu, anh G có điều kiện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác.

Anh Nguyễn Đắc G có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung, công sức, tài sản riêng, nợ chung: Chưa giải quyết.

4/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì theo biên lai số 0060543 ngày 17/10/2022.

5/ Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Nguyễn Đắc G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.

Cỡ chữ