- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản — án dân sự — "tranh chấp đất"
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HU ỆN V NG I M TỈNH VĨNH ONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/DSST Ngày: 14-03-2023 “ V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HU ỆN V NG I M, TỈNH VĨNH ONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Mỡn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lê Văn Lực.
2/ Ông Trần Văn Lập.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huy n V ng Liêm, t nh V nh Long.
- Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n V ng Liêm tham gia phiên tòa: bà Đặng Thị Ngh a – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n V xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 76/2019/TLST - DS ngaøy 04 thaùng 04 naêm 2019 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông ê Văn N - sinh năm: 1953 (có mặt).
Địa ch : ấp H, xã H, huy n V, t nh V.
Người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn N là ông ê Anh C, luật sư của văn phòng luật sư Lê Anh C, thuộc đoàn luật sư t nh V nh Long – (có mặt).
- Bị đơn: Ông ê Văn O - sinh năm: 1939 (vắng mặt).
Địa ch : số 50/4B, đường N, khóm 2, phường 1, thành phố T.
Người đại di n hợp pháp theo ủy quyền của ông Lê Văn O là ông ê Văn P – sinh năm: 1970 (có mặt).
Địa ch : Đường 30/4, ấp S, xã L, thành phố T, t nh T.
Người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn O là ông Nguyễn Đức D - Trợ giúp viên pháp lý – Trung T1 trợ giúp pháp lý nhà nước t nh V nh Long (có mặt).
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/.Ông ê Văn Cấp T – sinh năm: 1969 (vắng, có đơn xin vắng mặt).
2/.Ông ê Văn C – sinh năm: 1948 (có mặt).
3/. Bà Trƣơng Thị N - sinh năm: 1949 (vắng, có đơn xin vắng mặt).
4/. Bà ê Thị Kim T – sinh năm: 1988 (vắng, có đơn xin vắng mặt).
5/. Bà ê Thị T1 – sinh năm: 1976 (vắng, có đơn xin vắng mặt).
6/. Bà ê Ngọc D – sinh năm: 1982 (vắng, có đơn xin vắng mặt).
7/. Bà ê Hồng T – sinh năm: 1986 (vắng, có đơn xin vắng mặt).
8/. Ông ê Minh T1 – sinh năm: 1984 (vắng mặt).
Cùng địa ch : ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V, t nh V nh Long.
9/. Ủy ban nhân dân huyện V
Địa ch : khóm 2, thị trấn V, huy n V, t nh V nh Long.
Người đại di n theo pháp luật là ông Phạm Minh H – Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huy n V (vắng, có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Văn N trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha, mẹ là cụ Lê Văn Hải (chết năm 1981) và cụ Nguyễn Thị H (chết năm 2003), khi cụ H còn sống có cho ông N các thửa đất sau:
+ Thửa 271, tờ bản đồ 04, di n tích là 4.270m2, loại đất ruộng hai lúa.
+ Thửa số 272, tờ bản đồ 04, di n tích 110m2, loại đất hoang.
+ Thửa số 273, tờ bản đồ 04, di n tích 130m2, loại đất thổ cư.
Các thửa đất cùng tọa lạc tại ấp H, xã H, huy n V, t nh V do ông Lê Văn N kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1992.
Trước đây ông O được nhà nước cấp 05 công đất ruộng tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V. Ông C được cha vợ cho 05 công đất ruộng ở ấp H, xã H, huy n V. Đến năm 1966 thì ông O và ông Nguyễn Văn Sáu, bà Trương Thị Đầy đổi 05 công đất ruộng với nhau để canh tác, không có đổi đất với ông C.
Vào năm 2006, ông N thấy hoàn cảnh kinh tế ông O gặp khó khăn nên cho ông O mượn phần đất tại thửa 271, thửa 272 và thửa 273 để canh tác, vi c cho mượn đất ch thỏa thuận bằng lời nói. Ông N thỏa thuận với ông O là không được cầm cố phần đất này cho người khác, nếu ông O không canh tác thì trả lại đất cho ông N.
Ông O canh tác được khoảng 01 năm thì cầm cố phần đất tại thửa 271, thửa 272 và thửa 273 cho cháu là anh Lê Văn Cấp T canh tác, khi cầm cố đất ông O không thông báo cho ông N biết. Đến khi phát sinh tranh chấp ông N khởi ki n tại tòa án yêu cầu anh Cấp T giao trả phần đất tại thửa 271, thửa 272 và thửa 273 cho ông N, thì ông O có trả cho anh Cấp T số tiền cầm cố đất là 30.000.000 đồng và anh Cấp T giao trả ông O phần đất tại thửa 271, thửa 272 và thửa 273 để tự hai bên giải quyết tranh chấp đất đai với nhau.
Ông N thống nhất theo biên bản định giá tài sản ngày 02/08/2019 của Hội đồng định giá tài sản huy n V, không yêu cầu định giá lại và thống nhất theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 23/09/2019 của Trung T1 kỹ thuật tài nguyên và môi trường t nh V nh Long.
Ông N xin rút lại yêu cầu khởi ki n về vi c yêu cầu ông Lê Văn Cấp T trả lại cho ông Lê Văn N phần đất tại thửa 271, di n tích là 4.270m2, loại đất ruộng hai lúa, thửa 272, di n tích 110m2, loại đất hoang và thửa 273, di n tích 130m2, loại đất thổ cư, cùng tờ bản số 4, tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V, t nh V nh Long.
Ông Lê Văn N có đơn khởi ki n bổ sung yêu cầu ông Lê Văn O giao trả cho ông Lê Văn N phần đất theo đo đạt thực tế tại thửa 151, di n tích 4.700,6m2, loại đất lúa, thửa 152, di n tích 67,7m2, loại đất hoang và thửa 153, di n tích 122,6m2, loại đất ở tại nông thôn, cùng tờ bản số 06, tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V, t nh V nh Long do ông Lê Văn N đứng tên quyền sử dụng đất.
Ông Lê Văn O có đơn khởi ki n phản tố yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Văn N tại thửa 271, di n tích 4.270m2, loại đất ruộng hai lúa, thửa 272, di n tích 110m2, loại đất hoang, thửa 273, di n tích 130m2, loại đất thổ cư, cùng tờ bản đồ 04, để ông Lê Văn O kê khai đăng ký đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Lê Văn N không đồng ý.
* Tại đơn khởi kiện phản tố và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Lê Văn O do ông Lê Văn P làm đại diện trình bày:
Phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của cụ Lê Văn Hải (chết năm 1981) và cụ Nguyễn Thị H (chết năm 2003). Cụ Hải và cụ H có tất cả 03 người con là ông Lê Văn O, ông Lê Văn C và ông Lê Văn N.
Trước đây ông O giữ chức vụ ban kinh tài (tài chính) của xã Hiếu Thành nên đến khoảng năm 1958 ông Lê Văn O được nhà nước cấp 05 công đất ruộng để canh tác, ông O không nhớ số thửa. Đến năm 1984 cụ H cho ông Lê Văn C 05 công đất ruộng để canh tác, khi cho không có làm giấy tờ và chưa tách thửa sang tên quyền sử dụng đất cho ông C nhưng ông N và ông O điều biết. Do vị trí đất ruộng của ông C và ông O không thuận ti n canh tác nên cụ H nói ông C và ông O thỏa thuận đổi đất ruộng với nhau, vi c đổi đất không có làm giấy tờ nhưng ông N biết. Sau khi đổi đất thì ông C canh tác 05 công đất ruộng của ông O, ông C đã làm thủ tục kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do ông Lê Văn N là con út, sống chung với cụ H nên lúc cụ H còn sống ông N đã làm thủ tục kê khai đăng ký đứng tên hết các thửa đất của cụ H trong đó có phần đất tại thửa 271, di n tích 4.270m2, loại đất ruộng hai lúa, thửa số 272, di n tích 110m2, loại đất hoang và thửa số 273, di n tích 130m2, loại đất thổ cư. Ba thửa đất này là của ông C đã đổi với ông O để ông O quản lý, sử dụng.
Ông O biết vi c ông N kê khai đăng ký đứng tên quyền sử dụng đất các thửa 271, thửa 272 và thửa 273 của ông O, nhưng thời điểm đó ông O không tranh chấp là do các anh, em trong gia đình sợ ông O hoàn cảnh kinh tế khó khăn bán hết các thửa đất trên, nên để cho ông N đứng tên dùm, sau này khi nào ông O cần thì ông N tách thửa sang tên trả lại quyền sử dụng đất cho ông O.
Ông O canh tác phần đất đã đổi với ông C từ năm 1994 đến năm 1996 thì cầm cố phần đất thuộc thửa 271, thửa 272 và thửa 273 cho anh Lê Văn Cấp T với giá 30.000.000 đồng. Đến năm 2007 ông O xin chuộc lại đất và yêu cầu ông N tách thửa sang tên trả lại đất cho ông O thì ông N không đồng ý nên ông O để cho ông Cấp T tiếp tục canh tác đất đến năm 2019 thì hai bên chấm dứt hợp đồng cầm cố và trả lại đất cho ông O quản lý cho đến nay.
Ông O thống nhất theo biên bản định giá tài sản ngày 02/08/2019 của Hội đồng định giá tài sản huy n V, không yêu cầu định giá lại và thống nhất theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 23/09/2019 của Trung T1 kỹ thuật tài nguyên và môi trường t nh V nh Long.
Nay ông Lê Văn N yêu cầu ông Lê Văn O giao trả cho ông Lê Văn N phần đất theo đo đạt thực tế tại thửa 151, di n tích là 4.700,6m2, loại đất ruộng hai lúa, thửa 152, di n tích 67,7m2, loại đất hoang và thửa 153, di n tích 122,6m2, loại đất ở nông thôn, cùng tờ bản số 06, tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V, t nh V nh Long thì ông O không đồng ý.
Ông Lê Văn O có yêu cầu khởi ki n phản tố yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Văn N tại thửa 271, di n tích 4.270m2, loại đất ruộng hai lúa, thửa 272, di n tích 110m2, loại đất hoang, thửa 273, di n tích 130m2, loại đất thổ cư, cùng tờ bản đồ 04, để ông Lê Văn O kê khai đăng ký đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Tại bảng khai ý kiến và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn Cấp T trình bày:
Ông T là con ruột ông Lê Văn C, nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông bà nội là cụ Lê Văn Hải và cụ Nguyễn Thị H để cho ông Lê Văn N đứng tên quyền sử dụng đất vào khoảng năm 1992, thời gian này ông Lê Văn O đi làm ăn xa không có ở địa phương.
Khoảng năm 1998, khi cụ H còn sống có nói cho ông O phần đất ruộng để ông O canh tác, nhưng ông không rõ di n tích đất là bao nhiêu. Năm 1994 ông O có cầm cố cho ông Cấp T phần đất tại thửa 271, di n tích 4.270m2, loại đất ruộng hai lúa, thửa số 272, di n tích 110m2, loại đất hoang, thửa số 273, di n tích 130m2, loại đất thổ cư với giá 30.000.000 đồng.
Ông O giao đất cho ông Cấp T canh tác từ năm 1994 đến năm 2019 thì ông Lê Văn N phát sinh tranh chấp với ông O và ông Cấp T. Do vậy, ông Cấp T có nhận lại số tiền cố đất ruộng là 30.000.000 đồng của ông Lê Văn O. Phần đất thuộc thửa 271, thửa 272, thửa 273 thì ông T đã giao trả lại cho ông Lê Văn O để ông O tự giải quyết tranh chấp đất với ông N, ông T không còn mướn lại phần đất này để canh tác. Nay ông Lê Văn Cấp T không có ý kiến và yêu cầu gì trong vụ án này.
* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C trình bày:
Cha mẹ ông C là cụ Lê Văn Hải (chết năm 1981) và cụ Nguyễn Thị H (chết năm 2003), cụ Hải và cụ H có tất cả 03 người con là ông Lê Văn C, ông Lê Văn O và ông Lê Văn N.
Trước đây vào khoảng năm 1965 ông O có khoảng 05 công đất ruộng do nhà nước cấp, đến năm 1969 ông O ở xa nên giao 05 công đất ruộng cho ông C canh tác dùm. Khoảng năm 1996 thì ông C được bà H cho 05 công đất ruộng để canh tác, sau này bà H nói với ông O và ông C là hai anh em đổi đất để canh tác cho thuận ti n thì ông O c ng đồng ý, vi c đổi đất không có làm văn bản.
Ông C canh tác 05 công đất ruộng đã đổi với ông O đến năm 2015 thì ông C làm thủ tục kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2016 ông C bán lại 05 công đất ruộng này cho ông Nguyễn Văn Than.
Đối với 05 công đất ruộng của ông C đã đổi với ông O thuộc thửa 271, thửa 272, thửa 273 thì ông O canh tác từ năm 1997, canh tác được khoảng trên mười năm thì cầm cố phần đất này lại cho anh Lê Văn Cấp T với giá 30.000.000 đồng, đến năm 2019 ông O trả tiền cầm cố đất và anh Cấp T giao trả lại các thửa đất nêu trên cho ông O quản lý, sử dụng.
Ông C có biết vi c ông N có kê khai đăng ký hết phần đất ruộng và vườn của cụ Nguyễn Thị H khoảng 20 công đất vào năm 1992, trong đó bao gồm luôn thửa 271, thửa 272, thửa 273 bà H cho ông C và ông C đã đổi đất với ông O, nhưng thời điểm đó anh, em không phát sinh tranh chấp do có thỏa thuận để ông N đứng tên dùm, khi nào ông O cần thì ông N phải tách thửa sang tên trả lại đất cho ông O.
Nay ông Lê Văn N khởi ki n yêu cầu ông O trả lại phần đất thuộc thửa 271, thửa 272, thửa 273 thì ông C không đồng ý vì phần đất này là của ông Lê Văn O. Ông C không có yêu cầu gì trong vụ án này.
* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N trình bày: Bà Trương Thị N thống nhất theo ý kiến trình bày của ông Lê Văn C. Bà N không có ý kiến và yêu cầu gì trong vụ án này.
* Tại bảng khai ý kiến và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim T, bà Lê Thị T1, bà Lê Ngọc D, bà Lê Hồng T cùng trình bày:
Bà T, bà T1, bà D, bà T thống nhất theo ý kiến trình bày của ông Lê Văn N. Không có ý kiến và yêu cầu gì trong vụ án này.
* Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Minh T1:
Ông Lê Minh T1 đã được Tòa án nhân dân huy n V niêm yết và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông T1 vẫn cố tình vắng mặt không lý do và không có ý kiến gửi cho Tòa án.
* Tại bảng khai ý kiến và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện V trình bày:
Tại công văn số 1713/UBND-TNMT ngày 21/12/2022 và công văn số 344/UBND-TNMT ngày 14/03/2023 của Ủy ban nhân dân huy n V có ý kiến: Ủy ban nhân dân huy n V vẫn giữ nguyên quan điểm được thể hi n trong công văn số 640/UBND ngày 22/07/2020 đã gửi cho Tòa án. Mọi vi c giải quyết của Tòa án nhân dân huy n V, Ủy ban nhân dân huy n V thống nhất và không có yêu cầu khác.
* Ý kiến luật sư Lê Anh Chiến là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn N:
Ông Lê Văn N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 03 thửa gồm: thửa 271, di n tích là 4.270m2, loại đất ruộng hai lúa, thửa số 272, di n tích 110m2, loại đất hoang, thửa số 273, di n tích 130m2, loại đất thổ cư, cùng tờ bản đồ 04. Các thửa đất tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V, t nh V nh Long.
Năm 2006 ông N thương tình anh em nên cho anh ruột là Lê Văn O mượn hết 03 thửa đất nêu trên để canh tác. Khoảng vài năm sau thì ông O đã giao 03 thửa đất nói trên lại cho cháu ruột ông Lê Văn Cấp T canh tác. Hi n nay ông Lê Văn Cấp T đã trả lại 03 thửa đất cho ông O nhưng ông O vẫn cố tình chiếm giữ không canh tác và c ng không trả lại cho ông N nên ông N đã làm đơn khởi ki n tại Tòa án yêu cầu ông O trả lại cho ông N 03 thửa đất nêu trên.
Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn ông N vì ông N là người đã và đang đứng tên quyền sử dụng đất hợp pháp 03 thửa đất 271, thửa 272 và thửa 273 từ năm 1992 cho đến nay.
Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi ki n phản tố của bị đơn ông O vì xét thấy yêu cầu khởi ki n của bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận.
* Ý kiến ông Nguyễn Đức Duy là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn O trình bày:
Nội dung đơn khởi ki n của Lê Văn N là không có cơ sở. Bởi lẽ, từ năm 1991 đến nay ông N không phải là người trực tiếp canh tác và sử dụng 03 thửa đất 271, thửa 272 và thửa 273, không thực hi n ngh a vụ của người sử dụng đất, vi c giao đất phải giao cho người có nhu cầu sử dụng. Vi c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N có vi phạm về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì trong tờ khai đăng ký quyền sử dụng đất ghi nguồn gốc đất là ông, bà trong khi phần đất này ông N trình bày là của cha mẹ cụ Hải và cụ H. Ngoài tờ khai đăng ký quyền sử dụng đất thì ông N không cung cấp được giấy tờ nào khác chứng minh phần đất thửa 271, thửa 272 và thửa 273 cụ H cho ông N.
Yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Văn O là có cơ sở để chấp nhận vì ông O là người trực tiếp canh tác, sử dụng phần đất thửa 271, thửa 272 và thửa 273, khi ông O cầm cố 03 thửa đất nêu trên cho ông T thì ông C và ông N đều biết và không ngăn cản. Vi c ông O canh tác đất có xác nhận của 10 chủ sử dụng đất liền kề xác nhận đất do ông O canh tác. Do ông O sinh sống ở thành phố Trà Vinh nên không biết được vi c kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật, do vậy ông N đã kê khai đăng ký đứng tên luôn phần đất của ông O. Đến khi ông O phát hi n thì ông O vẫn đồng ý giao phần đất này cho ông N đứng tên dùm nhưng ông N có hứa khi nào ông O cần sẽ tách thửa sang tên trả lại phần đất thửa 271, thửa 272 và thửa 273 cho ông O nhưng đến nay ông N không thực hi n nên ông O khởi ki n yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N tại thửa 271, thửa 272 và thửa 273 để ông N kê khai đăng ký đứng tên quyền sử dụng đất.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn ông Lê Văn N do yêu cầu khởi ki n của ông N là không có cơ sở.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi ki n phản tố của bị đơn ông Lê Văn O vì xét thấy yêu cầu khởi ki n của bị đơn là có cơ sở để chấp nhận.
* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V có ý kiến là: Thủ tục thụ lý vụ án, xác định mối quan h pháp luật dân sự của vụ án, quá trình chuẩn bị xét xử, thu thập chứng cứ của Thẩm phán và tiến hành phiên tòa sơ thẩm của Hội đồng xét xử sơ thẩm là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 262 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, 202, 203 Luật đất đai;
Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Đình ch giải quyết đối với yêu cầu của ông Lê Văn N về vi c yêu cầu ông Lê Văn Cấp T trả lại phần đất theo đo đạt thực tế tại thửa 151,di n tích là 4.700,6 m2, loại đất hai lúa; thửa số 152, di n tích 67,7m2, loại đất hoang và thửa số 153, di n tích 122,6m2, loại đất ở, cùng tờ bản số 06, tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V, t nh V nh Long do ông Lê Văn N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn ông Lê Văn N về vi c yêu cầu ông Lê Văn O giao trả phần đất theo đo đạt thực tế tại thửa 151, di n tích là 4.700,6 m2, loại đất hai lúa; thửa số 152, di n tích 67,7m2, loại đất hoang và thửa số 153, di n tích 122,6m2, loại đất ở nông thôn, cùng tờ bản số 06, tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V, t nh V nh Long do ông Lê Văn N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Văn O yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Văn N tại thửa 271, tờ bản đồ 04, di n tích là 4270m2, loại đất hai lúa, thửa số 272, tờ bản đồ 04, di n tích 110m2, loại đất hoang, thửa số 273, tờ bản đồ 04, di n tích 130m2, loại đất thổ cư để ông O kê khai đăng ký đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .
- Về chi phí khảo sát đo đạc và định giá tài sản: buộc ông Lê Văn O nộp 4.341.000 đồng để hoàn trả lại cho ông Lê Văn N.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Lê Văn O là người cao tuổi được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Tài liệu, chứng cứ trong vụ án:
-Tài li u chứng cứ nguyên đơn đã nộp: Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai (bản sao), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản sao).
-Tài li u chứng cứ bị đơn đã nộp: Đơn xin xác nhận nguồn gốc đất ngày 05/08/2019 (bản sao).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huy n V.
Xét những người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan có đơn đề nghị Tòa án xử vắng mặt, người có có quyền lợi, ngh a vụ liên quan anh Lê Minh T1 đã được Tòa án tri u tập hợp l đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Ông Lê Văn N yêu cầu ông Lê Văn O giao trả lại ông N phần đất theo đo đạt thực tế tại thửa 151 (theo giấy chứng nhận là thửa 271), di n tích là 4.700,6m2, loại đất ruộng hai lúa, thửa số 152 (theo giấy chứng nhận là thửa 272), di n tích 67,7m2, loại đất hoang và thửa số 153 (theo giấy chứng nhận là thửa 273), di n tích 122,6m2, loại đất ở nông thôn, cùng tờ bản số 06, tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V, t nh V nh Long.
Ông Lê Văn O có yêu cầu phản tố yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Văn N tại thửa 271, di n tích là 4.270m2, loại đất hai lúa, thửa số 272, di n tích 110m2, loại đất hoang, thửa số 273, di n tích 130m2, loại đất ở nông thôn, để ông O kê khai đăng ký đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ông N và ông O đều xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa 271, di n tích là 4.270m2, loại đất hai lúa, thửa số 272, di n tích 110m2, loại đất hoang, thửa số 273, di n tích 130m2, loại đất ở nông thôn có nguồn gốc của cha mẹ là cụ Lê Văn Hải và cụ Nguyễn Thị H .
Ngày 10/05/1991 ông N có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ở thửa 271, thửa 272 và thửa 273 di n tích chung là 4.510m2, đến ngày 09/01/1992 ông N được Ủy ban nhân dân huy n V cấp giấy chứng nhận phần đất nêu trên.
- Tại công văn phúc đáp số 640/UBND ngày 22/07/2020 của Ủy ban nhân dân huy n V có ý kiến như sau:
Theo tư li u đo đạc bản đồ giải thửa năm 1991 (chương trình đất) ông Lê Văn N kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm các thửa:
- Thửa số 151 (theo giấy chứng nhận là thửa 271) tờ bản đồ số 06, di n tích 4.270m2, loại đất lúa.
- Thửa số 152 (theo giấy chứng nhận là thửa 272) tờ bản đồ số 06, di n tích 110m2, loại đất hoang.
- Thửa số 153 (theo giấy chứng nhận là thửa 273) tờ bản đồ số 06, di n tích 130m2, loại đất thổ cư.
Đất tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V, t nh V nh Long.
Trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn N đối với các thửa đất nêu trên được thực hi n đúng quy định tại Thông tư số 302 TT/ĐKTK ngày 28/10/1989 của TOg cục quản lý ruộng đất hướng dân thi hành Quyết định số 201 QĐ/ĐKTK ngày 14/07/1989 của TOg cục quản lý ruộng đất về vi c ban hành quy định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vi c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn N là cấp cho hộ gia đình.
Theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 23/09/2019 di n tích đo đạc hi n trạng của các thửa đất như sau:
- Thửa số 151, di n tích 4.700,6m2 (di n tích theo giấy chứng nhận là 4.270m2) l ch T 430,6m2.
- Thửa số 152, di n tích 67,7m2 (di n tích theo giấy chứng nhận là 110m2) l ch giảm 42,3m2.
- Thửa số 153, di n tích 122,6m2 (di n tích theo giấy chứng nhận là 130m2) l ch giảm 7,4m2.
Sự T giảm di n tích các thửa đất giữa đo đạc hi n trạng và đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo tư li u Chương trình đất là do 02 phương pháp đo vẽ, tính di n tích khác nhau và biến động ranh.
Hi n tại theo tư li u đo đạc bản đồ địa chính chính quy để cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Lê Văn N kê khai đăng ký ở thửa số 109 (hợp các thửa 151, 152, 153, 147), tờ bản đồ số 15, di n tích 5.251,1m2, mục đích sử dụng đất ở nông thôn, đất trồng cây lâu năm. Nhưng ông Lê Văn N chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, từ năm 1992 đến nay ông N là người kê khai đăng ký đứng tên phần đất tranh chấp tại thửa số 271, thửa 272 và thửa 273 theo đúng quy định pháp luật.
Ông O do ông Lê Văn P đại di n trình bày phần đất 271, thửa 272 và thửa 273 do ông C đổi cho ông O canh tác từ năm 1984 đến năm 1996 thì cho ông Lê Văn Cấp T thuê đất và đến năm 2001 thì cầm cố luôn phần đất này lại cho ông Cấp T. Đến năm 2019 ông O chấm dứt hợp đồng cầm cố và lấy lại đất, nhưng trong suốt quá trình canh tác, quản lý, sử dụng đất ông O không làm thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Tại các lời trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông C, ông P đều trình bày ông C, ông O có biết vi c ông N đứng tên phần đất thửa 271, thửa 272 và thửa 273, lúc đó bà H còn sống. Tại thời điểm ông N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến năm 2019, ông C và ông O không ai tranh chấp hay có khiếu nại gì về vi c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N vì tin tưởng để ông N đứng tên dùm các thửa đất nêu trên thay cho ông O đến khi nào ông O có nhu cầu sử dụng thì ông N sẽ tách thửa sang tên trả lại đất cho ông O.
Tuy nhiên ông C, ông O không đưa ra được chứng cứ chứng minh cụ H có cho ông C thửa số 271, thửa 272 và thửa 273 và giữa ông C và ông O có thỏa thuận đổi đất với nhau các phần đất tại thửa 271, thửa 272 và thửa 273 và chứng cứ chứng minh ông N đứng tên dùm ông O các thửa đất nêu trên nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.
Tại biên bản xác minh bà Trương Thị Đầy và ông Nguyễn Văn Sáu trình bày ông Sáu và bà Đầy là vợ chồng, thời gian nào bà Sáu không nhớ nhưng c ng trên 50 năm, ông Sáu, bà Đầy có thỏa thuận đổi cho ông O 05 công đất ruộng ở ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V để thuận ti n canh tác và liền ranh đất. Thời điểm đổi đất thì hai bên không ai có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi đổi đất bà Đầy có làm thủ tục kê khai đăng ký và được câp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 05 công đất ruộng. Ông Sáu, bà Đầy không biết nguồn gốc 05 công đất ruộng ông O đổi cho ông, bà từ đâu mà có, hi n 05 công đất ruộng ông Sáu, bà Đầy đổi cho ông O thì ông O có kê khai đăng ký, còn canh tác hay không thì ông, bà không biết là có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.
Ông Lê Văn O và ông Lê Văn Cấp T tự thỏa thuận chấm dứt hợp đồng cầm cố đối với phần đất thuộc thửa số 271, thửa 272 và thửa 273, ông T nhận tiền cầm cố đất là 30.000.000 đồng và giao trả ông O phần đất thuộc thửa số 271, thửa 272 và thửa 273. Nay ông Lê Văn N tự nguy n rút lại yêu cầu ông Lê Văn Cấp T trả lại phần đất tại các thửa 271, di n tích là 4270m2, thửa số 272, di n tích 110m2 và thửa số 273, di n tích 130m2, đất tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V, t nh V nh Long nên Hội đồng xét xử đình ch đối với yêu cầu khởi ki n ông N đã rút.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Lê Văn N, không chấp nhận yêu cầu khởi ki n phản tố của ông Lê Văn O.
- Buộc ông Lê Văn O có ngh a vụ giao thửa đất số thửa 151 (theo giấy chứng nhận là thửa 271), di n tích 4.700,6 m2, loại đất lúa, thửa số 152 (theo giấy chứng nhận là thửa 272), di n tích 67,7m2, loại đất bằng chưa sử dụng và thửa số 153 (theo giấy chứng nhận là thửa 273), di n tích 122,6m2, loại đất ở tại nông thôn, cùng tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V cho ông Lê Văn N.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Văn O yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Văn N tại thửa 271, di n tích 4270m2, loại đất hai lúa, thửa số 272, di n tích 110m2, loại đất hoang, thửa số 273, di n tích 130m2, loại đất thổ cư, cùng tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V để ông Lê Văn O kê khai đăng ký đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .
- Đình ch yêu cầu của ông Lê Văn N yêu cầu ông Lê Văn Cấp T trả lại phần đất tại các thửa 271, di n tích là 4.270m2, thửa số 272, di n tích 110m2 và thửa số 273, di n tích 130m2 tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V.
Chi phí khảo sát đo đạc, định giá: là 4.341.000 đồng (bốn tri u ba trăm bốn mươi mốt ngàn đồng).
Buộc ông Lê Văn O phải nộp 4.341.000 đồng (bốn tri u ba trăm bốn mươi mốt ngàn đồng) để hoàn trả lại cho ông Lê Văn N nhận do ông Lê Văn N đã nộp tạm ứng trước.
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lê Vă N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Lê Văn O là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Xét đề nghị của vị đại di n Vi n kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
Xét đề nghị của luật sư bảo v quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Xét đề nghị của trợ giúp viên pháp lý là người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QU ẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 165, 166, 217, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 166, 170, 202, 203 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn ông Lê Văn N.
- Buộc ông Lê Văn O có ngh a vụ giao thửa đất số thửa 151 (theo giấy chứng nhận là thửa 271), di n tích 4.700,6 m2, loại đất lúa, thửa số 152 (theo giấy chứng nhận là thửa 272), di n tích 67,7m2, loại đất bằng chưa sử dụng và thửa số 153 (theo giấy chứng nhận là thửa 273), di n tích 122,6m2, loại đất ở tại nông thôn, cùng tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V cho ông Lê Văn N.
( Kèm theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 23/09/2019 của Trung T1 kỹ thuật tài nguyên và môi trường t nh V nh Long).
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi ki n phản tố của ông Lê Văn O về vi c yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Văn N tại thửa 271, di n tích là 4.270m2, loại đất hai lúa, thửa số 272, di n tích 110m2, loại đất hoang, thửa số 273, di n tích 130m2, loại đất thổ cư, cùng tờ bản đồ 04, tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V để ông Lê Văn O kê khai đăng ký đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .
3. Đình ch yêu cầu khởi ki n của ông Lê Văn N yêu cầu ông Lê Văn Cấp T trả lại phần đất tại các thửa 271, di n tích là 4270m2, thửa số 272, di n tích 110m2 và thửa số 273, di n tích 130m2, đất tọa lạc tại ấp Hiếu Trung A, xã H, huy n V.
4. Chi phí khảo sát đo đạc, định giá: là 4.341.000 đồng (bốn tri u ba trăm bốn mươi mốt ngàn đồng).
Buộc ông Lê Văn O phải nộp 4.341.000 đồng (bốn tri u ba trăm bốn mươi mốt ngàn đồng) để hoàn trả lại cho ông Lê Văn N nhận do ông N đã nộp tạm ứng trước.
5. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lê Văn N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Lê Văn O được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp l ./.
| Nơi nhận: - TAND t nh V nh Long; -VKSND huy n V; -Chi cục THADS huy n V; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHI N TÒA Nguyễn Thị Kim Mỡn |