vanban.org

Bản án 07/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 16/02/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Phước H.

Buộc chị Võ Thị Thanh Th có nghĩa vụ trả cho ông Hà Phước H số tiền là 1.300.000.000 (Một tỷ ba trăm triệu) đồng, khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Phước H.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/DS-ST
Ngày: 16-02-2023
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài
sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến.

Các Hội thẩm nhân nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ba.

2. Ông Lê Văn Kiệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thoảng là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 322/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2022/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST-DS ngày 03/01/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hà Phước H, sinh năm 1956.

Địa chỉ: 285A đường L, phường N, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Võ Trọng K, sinh năm 1978 (Có mặt).

Địa chỉ: 7/11 đường Ph, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

(Giấy uỷ quyền ngày 07/11/2022).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Chị Dương Thị Kim L – Luật sư của Văn phòng luật sư Kim L và thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tiền Giang (Có mặt).

Địa chỉ: 28 Ấp H, xã M1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Chị Võ Thị Thanh Th, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 422 Bis đường Tr, phường B1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Chỗ ở: 744G đường L, phường N, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 11 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ anh Võ Trọng K là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất lời trình bày và ý kiến của chị Dương Thị Kim L là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Hà Phước H như sau: Ông Hà Phước H cho chị Võ Thị Thanh Th mượn tiền nhiều lần, không tính lãi với số tiền là 1.300.000.000 đồng theo “Giấy mượn tiền” ngày 03/11/2019, 13/6/2021 và 25/6/2021, cụ thể như sau: Ngày 31/01/2019 mượn 300.000.000 đồng; ngày 13/6/2021 mượn 500.000.000 đồng và ngày 25/6/2021 mượn 500.000.000 đồng, vay không ghi thời hạn trả tiền, các bên thỏa thuận khi nào ông H cần thì chị Th trả tiền cho ông H. Nhưng ông H liên hệ với chị Th không được và biết chị Th không còn ở địa phương. Do đó ông H kiện, yêu cầu chị Th trả cho ông H số tiền 1.300.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi và trả khi án có hiệu lực pháp luật.

* Chị Võ Thị Thanh Th từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng đương sự không gửi văn bản nêu ý kiến của mình và vắng mặt không rõ lý do.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung theo lập luận nêu tại bài phát biểu. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Th; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc chị Th có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền 1.300.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của ông Hà Phước H đối với chị Võ Thị Thanh Th là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” quy định tại Điều 463 của Bộ Luật dân sự. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Tại phiên tòa, chị Võ Thị Thanh Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố Tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu của ông Hà Phước H yêu cầu chị Võ Thị Thanh Th trả tiền vay.

Qua lời nội dung đơn kiện của ông H; lời trình bày của người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; Bản gốc các “Giấy mượn tiền” ngày 03/11/2019, 13/6/2021 và 25/6/2021. Hội đồng xét xử nhận thấy: Giữa ông H với chị Th có xác lập quan hệ vay tiền, vay không có lãi. Chị Th là người vay của ông H tổng số số tiền 1.300.000.000 đồng theo các “Giấy mượn tiền” ngày 31/01/2019 là 300.000.000 đồng, ngày 13/6/2021 là 500.000.000 đồng và ngày 25/6/2021 là 500.000.000 đồng. Bên dưới các các “Giấy mượn tiền” này có chữ ký, ghi tên chị Th hay Võ Thị Thanh Th và vay không kỳ hạn. Theo các “Giấy mượn tiền”, ông H cho chị Th vay tiền không ghi kỳ hạn trả, nên ông H không yêu cầu tính lãi chậm thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn là phù hợp với quy định của pháp luật và ông H có quyền đòi lại tiền cho vay nhưng phải báo trước cho chị Th biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác quy định tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự. Căn cứ kết quả xác minh ngày 14/11/2022 về nơi cư trú, chỗ ở thì chị Th không cư trú, không ở địa phương đã trên 01 (một) năm và Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện của ông H nộp trực tiếp cho Tòa án ngày 08/11/2022, nên kể từ ngày này được xem là kết thúc thời gian báo trước về thời hạn trả tiền vay và các khoản vay đều đến hạn nhưng chị Th chưa trả tiền cho ông H nên ông H đòi tiền nợ gốc 1.300.000.000 đồng là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Cho nên buộc chị Th trả cho ông H số tiền vay gốc là 1.300.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật.

Về tiền lãi vay, các “Giấy mượn tiền” nêu trên không ghi nội dung trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả và ông H không yêu cầu tính nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Ông H là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên đương sự được miễn nộp tiền tạm án phí quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận của số tiền 1.300.000.000 đồng, mức án phí được tính {(Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, mức thu là 36.000.000 đồng) + (3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 500.000.000 đồng là 15.000.000 đồng)} là 51.000.000 đồng.

Với phân tích của Hội đồng xét xử như trên, ý kiến của Kiểm sát viên và của Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273; khoản 1 Điều 143, 147 và Điều 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 463, 466, khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Phước H.

1. Buộc chị Võ Thị Thanh Th có nghĩa vụ trả cho ông Hà Phước H số tiền là 1.300.000.000 (Một tỷ ba trăm triệu) đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí: Chị Võ Thị Thanh Th phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 51.000.000 (Năm mươi mốt triệu) đồng.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ