vanban.org

Bản án 07/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai Tuyên án 12/04/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị T. Buộc Ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th phải thanh toán số tiền nợ gốc 320.000.000 đồng và tiền lãi 155.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi: 475.000.000 đồng (bốn trăm bảy mươi lăm triệu đồng) cho bà Hoàng Thị T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hoàng Thị Tuyết - Trần Thanh Phong"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:07 /2023/DS-ST
Ngày 12 - 04 - 2023
“V/v Tranh chấp hợp
đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hà và ông Ngô Thanh Hà.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 04 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2021/TLST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2021, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-DS, ngày 06 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T – Sinh năm 1970

Địa chỉ: 314A Trần Hưng Đạo, thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh

Gia Lai. (có mặt).

Bị đơn: Ông Trần Thanh Ph – Sinh năm 1985.

Bà Nguyễn Phương Th– Sinh năm 1984.

Địa chỉ: Thôn Nhơn Thọ, xã Đăk Ta Lay, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Ông Nguyễn Văn T – SN 1992.

Địa chỉ: Thôn linh Nham, xã Đăk DJăng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hoàng Thị T trình bày:

Bà Hoàng Thị T trình bày ông Nguyễn Văn T có quen biết với nhau trước đó, nên vào ngày 22/4/2018 ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Ngyễn Phương Th có đến nhà tôi vay tiền tôi đã đồng ý cho vay với số tiền 320.000.000 đồng để đáo hạn tín dụng cho ông Ph, bà Th sau đó ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th cam kết ngay sau khi hoàn tất các thủ tục để vay lại tín dụng ông Ph bà Th sẽ trả đầy đủ số tiền gốc và tiền lãi 320.000.000 đông. Và tiền lãi phát sinh trong thời gian vay cho chung tôi với mức lãi suất do các bên tự thỏa thuận. Trường hợp ông Ph bà Th không trả được số tiền trên thì ông Nguyễn văn T sẽ có trách nhiệm thế chấp tài sản của mình và vay vốn tại tín dụng đẻ trả toàn bộ khoản tiền trên cho tội. Đồng thời ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th có viết một Giấy mượn tiền giao cho tôi giữ.

Đến nay đã qua thời hạn như đã cam kết nhưng ông Nguyễn văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th vẫn không chịu trả khoản tiền trên cho tôi. Mặc dù tôi đã nhiều lần yêu cầu ông T, ông Ph và bà Th phải hoàn trả toàn bộ tiền gốc và tiền lãi phát sinh cho tôi nhưng ông T, ông Ph và bà Th cư hẹn mà không chịu trả.

Vây nay tôi làm đơn này khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Giải quyết theo thẩm quyền buộc ông T, ông Ph và bà Th phải có nghĩa vụ liên đới trả lại cho tôi toàn bộ số tiền gốc là 320.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày xét xử. Tôi tạm tính từ ngày 12/4/2018 đến ngày khởi kiện là 36 tháng với mức lãi suất là 1,65%/ tháng Như vậy tôi yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th phải có nghĩa vụ liên đới trả số tiền cho tôi gốc là 320.000.000 đồng x 35 tháng x 1,65% = 184.800.000 đồng.

Cụ thể buộc ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th Tiền gốc là 320.000.000 đồng và tiền lãi là 184.800.000 đồng. Tổng cộng là: 504.800.000 đồng.

Về phía bị đơn buộc ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th:

Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập làm việc, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về phiên hòa giải, Giấy triệu tập tham gia phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Thông báo mở lại phiên tòa. Ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th vẫn cố tình không đến làm việc và tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng chứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa. Ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th cũng cố tình không có ý kiến gì thể hiện chính kiến về giải quyết cụ án. Do đó Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện Mang Yang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Thẩm phán Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đều được thực hiện đúng quy định nêu việc xét xử vắng mặt đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th phải thanh toán tiền nợ gốc là 320.000.000 đồng và tiền lãi đến ngày 22/4/2018 đến ngày khởi kiện là 36 tháng cho nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Văn T có địa chỉ; thôn Linh Nham, xã Đăk Jơ Răng, huyện Mang yang, tỉnh Gia Lai ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th có địa chỉ: Thôn Nhơn Thọ, xã Đăk Ta Lay, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Mang, tỉnh Gia Lai.

[2]. Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ gốc là 320.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xác định là tranh chấp về giao dịch dân sự về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Bị đơn ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để trình bày ý kiến, hòa giải và tham gia xét xử, quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án đúng theo quy định nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xét xử Quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 2 Điều 227 và khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4]. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm các giấy nhận nợ do ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th ký giấy nhận nợ và lời khai của nguyên đơn thể hiện: Ngày 22 tháng 04 năm 2018 ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th có vay của bà T tổng cộng là 320.000.000 đồng, bà T đã đòi nhiều lần nhưng ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th không trả toàn bộ tiền gốc và tiền lãi.

Nay nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th phải có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc là 320.000.000 đồng và tính tiền lãi phát sinh từ ngày 22/4/2018 đến ngày khởi kiện là 36 tháng với lãi suất là 1,65%/tháng. Cụ thể 320.000.000 đồng x 36 tháng x 1,65%/tháng = 184.800 đồng. Tổng công gốc và lãi là 504.000.000 đồng cho nguyên đơn.

Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy: Các bên đã giao dịch dân sự trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, nội dung và hình thức hợp đồng đều tuân thủ các quy định của Bộ luật dân sự, không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội vì vậy giao dịch này là hợp pháp và các bên phải có nghĩa vụ tôn trọng cũng như thực hiện đúng những thoả thuận, cam kết khi xác lập giao dịch. Bà T đã thực hiện nghĩa vụ giao tiền cho ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th. Ông Tuân, ông Ph và bà Th lại không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận cho bà T. Như vậy, ông T, ông Ph và bà Th đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà mình đã cam kết và bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T, ông Ph và bà Th phải trả nợ. Ông T, ông Ph và bà Th ký giấy nhận nợ xác nhận còn nợ tiền của nguyên đơn 320.000.000 đồng nên ông ông T, ông Ph và bà Th có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn nợ là có căn cứ.

Xét giao dịch giữa bà T và ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th được giao kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện giữa các bên, phù hợp với các quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn được quy định tại Điều 478 của Bộ luật dân sự nên có hiệu lực pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 474 của Bộ luật dân sự quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Số tiền bà Tuyết cho ông Tuấn vay là 320.000.000 đồng (ba trăm hai mươi triệu đồng), số tiền này đã được bà T trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà.

Ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền nợ đã vay cho bà Hoàng Thị T như đã thoả thuận theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Đơn yêu cầu của bà Hoàng Thị T được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 22.800.000 đồng. Bà Hoàng Thị T được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Về lãi suất: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th trả tiền lãi 150.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự nên yêu cầu lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 22/04/2018 đến ngày xét xử ngày 12/4/2023 thành tiền là 155.000.000 đồng. Xét thấy, nguyên đơn yêu cầu số tiền lãi là có căn cứ đúng pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng việc chấp nhận yêu cầu của bà T về việc buộc ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th phải trả số nợ có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc là 320.000.000 đồng và tính tiền lãi phát sinh từ ngày 22/4/2018 đến ngày 12/4/2023 tiền lại là 155.000.000 đồng. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 475.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết nội dung vụ án là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 27, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điều 91; khoản 2 điều 92; Điều 147; Điều 184; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng Điều 166; Điều 280; Điều 357; khoản 1 Điều 351; Điều 463; Điều 466; Điều 468 và 470 của Bộ luật dân sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị T.

Buộc Ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th phải thanh toán số tiền nợ gốc 320.000.000 đồng và tiền lãi 155.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi: 475.000.000 đồng (bốn trăm bảy mươi lăm triệu đồng) cho bà Hoàng Thị T.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (12/04/2023) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn T, ông Trần Thanh Ph và bà Nguyễn Phương Th phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 23.011.000 đồng (hai mươi ba triệu, không trăm mười một đồng).

Trả lại cho bà Hoàng Thị T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 12.096.000 đồng (mười hai triệu, không trăm, chín mươi sáu triệu đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010531, ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

3. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/04/2023), các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ