vanban.org

Bản án 07/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

2/ Xử buộc vợ chồng bà VTT và ông TQT1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà TTM số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Chia phần cho mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho bà M số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực, bà M có đơn yêu cầu thi hành án đối … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Mai - Tuyết"
  • Tòa quyết gì? 1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/DS-ST
Ngày: 16/01/2023
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH- TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Thanh Bình.

2/ Ông Nguyễn Văn Thiện.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Cao Quốc Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 16/01/2023, tại Hội trường xử án, Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 287/2022/TLST-DS, ngày 25 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2652022/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-DS ngày 03/01/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà TTM, sinh năm: 1964; Nơi cư trú: Số A, đường CMT8, tổ A1, khu phố A2, thị trấn VX, huyện ĐL, tỉnh BT.

- Bị đơn: Bà VTT, sinh năm: 1984; Nơi cư trú: Số B, đường NGT, tổ B1, khu phố B2, thị trấn VX, huyện ĐL, tỉnh BT.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông CHS, sinh năm: 1963; Nơi cư trú: Số A, đường CMT8, tổ A1, khu phố A2, thị trấn VX, huyện ĐL, tỉnh BT.

+ Ông TQT1; Nơi cư trú: Số B, đường NGT, tổ B1, khu phố B2, thị trấn VX, huyện ĐL, tỉnh BT.

Tại phiên tòa nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông CHS có mặt; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông TQT1 vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 27/7/2022, các bản khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, biên bản hòa giải, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nguyên đơn là bà TTM trình bày:

Xuất phát từ quan hệ quen biết, ngày 04/11/2021 bà có cho bà VTT mượn số tiền 30.000.000 đồng. Lãi suất bà và bà T thỏa thuận bằng miệng là 3%/tháng. Thời hạn trả nợ là 06 tháng. Ngày 07/12/2021 bà và bà T có đến văn phòng công chứng NTTT làm hợp đồng vay tiền. Nội dung hợp đồng ghi cụ thể: Bà T vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), thời hạn vay là 01 năm kể từ ngày 07/12/2021 đến hết ngày 06/12/2022. Không thỏa thuận lãi suất. Bà T đã đọc và ký xác nhận. Tuy nhiên, bà T đã cố tình không thực hiện việc trả nợ. Do vậy, bà đã làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà VTT, ông TQT1 phải trả cho bà số tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông CHS hoàn toàn thống nhất với ý kiến trình bày của nguyên đơn bà TTM.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện ĐL tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn – bà VTT và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông TQT1 (chồng bà T) đều vắng mặt, cố tình không tham gia bất kỳ hoạt động tố tụng. Tuy nhiên căn cứ vào họ và tên, số CCCD của người vay trong hợp đồng vay tiền có công chứng ngày 07/12/2021 cùng với thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư ngày 09/01/2022 thì đã có đủ cơ sở để xác định chính xác bà VTT, sinh năm: 1984, trú tại: số nhà B, đường NGT, khu phố B2, thị trấn VX, huyện ĐL, tỉnh BT là bị đơn và ông TQT1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này. Đồng thời khi tiến hành xác minh tại địa phương ông ND – Trưởng khu phố B2, thị trấn VX còn cho biết: Ông TQT1, sinh năm: 1975 và bà VTT, sinh năm: 1984 hiện có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại số nhà B, đường NGT, tổ B1, khu phố B2, thị trấn VX, huyện ĐL, tỉnh BT. Ông T1 và bà T là vợ chồng, ông bà đã chung sống tại địa phương hơn 15 năm, có 02 người con hiện nay đã lớn. Ông T1 làm thợ hồ, bà T buôn bán tại nhà. Hiện nay bà T đã đi làm ăn xa, không thấy về nhà, ông T1 đi làm từ sáng sớm đến chiều tối mới về. Trong quá trình chung sống, ông thấy vợ chồng ông T1 bà T vẫn thuận hòa, cùng nhau làm việc và chăm lo cho con cái, không thấy ông bà sống ly thân.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện các thủ tục tố tụng như tổ chức hòa giải; mở phiên họp về việc tiếp cận, công khai chứng cứ; Cấp và tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật TTDS.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật TTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật TTDS; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của Bộ luật TTDS.

Quan điểm giải quyết vụ án: Cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà TTM. Buộc bà VTT và ông TQT1 phải có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ gốc cho bà M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 08/8/2022 và các tài liệu chứng cứ cũng như lời khai của các đương sự, Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn, bị đơn có nơi cư trú và địa chỉ cụ thể trên địa bàn huyện ĐL, tỉnh BT nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện ĐL theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai những văn bản như: Giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn – bà VTT và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - ông TQT1 nhưng ông bà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ trả nợ:

Xuất phát từ chỗ quen biết nên bà M có cho bà T vay mượn với số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Theo hợp đồng vay tiền có công chứng ngày 07/12/2021. Các bên không thỏa thuận lãi suất, thời hạn vay là 01 năm. Mặc dù tại đơn khởi kiện, bà M trình bày: Bà và bà T có thỏa thuận lãi suất bằng miệng, mức lãi suất là 3%/tháng. Trong các bản khai, biên bản hòa giải tại Tòa án bà M đã trình bày: Yêu cầu vợ chồng bà VTT và ông TQT1 phải liên đới trả cho bà số tiền nợ gốc 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), không tính lãi suất trong thời hạn 01 năm như đã thỏa thuận trong hợp đồng, nếu quá hạn 01 năm bà đề nghị tính lãi suất theo mức lãi ngân hàng. Tại phiên tòa bà M xác định không yêu cầu trả lãi.

Trong suốt quá trình tố tụng, bà T và ông T1 không tham gia, cho nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được, không đối chất được giữa các bên về việc có thỏa thuận lãi suất khi vay hay không. Nhưng tại phiên tòa bà M và ông S không yêu cầu tính lãi, cũng như căn cứ vào hợp đồng vay tiền có công chứng ngày 07/12/2022 giữa bà T với bà M thì đã có đủ cơ sở để xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn không thỏa thuận lãi suất. Bà T có vay và còn nợ phải trả cho bà M số tiền là 30.000.000 đồng. Do tại phiên tòa, nguyên đơn cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông S đã thống nhất xác định không yêu cầu tính lãi. Do vậy, HĐXX không xem xét đến yêu cầu về lãi trong vụ án này.

Về nghĩa vụ liên đới:

Tại biên bản xác minh đối với ông ND – trưởng khu phố B2, thị trấn VX ngày 16/12/2022 cũng như tại Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của công an thị trấn VX, huyện ĐL ngày 09/01/2023 đã đủ cơ sở để xác định được rằng: Ông TQT1 đang là chồng của bà VTT cho nên ông T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và phải có nghĩa vụ liên đới cùng với bà T trả số tiền nợ nói trên là hoàn toàn phù với quy định tại Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Do vậy Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bà T phải chịu án phí DSST trên toàn bộ số tiền phải trả.

Về áp dụng án lệ:

Vụ án tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán giữa bà TTM và bà VTT, Tòa án nhân dân huyện ĐL chỉ xem xét giải quyết tranh chấp theo quy định tại các Điều 351 của Bộ luật dân sự 2015. Nghiên cứu các bản án lệ do TAND Tối cao công bố, không có vụ án nào tương tự như vụ án đang được xét xử. vì vậy, HĐXX không áp dụng án lệ mà chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung của vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Điều 351, 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự 2015;

Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

2/ Xử buộc vợ chồng bà VTT và ông TQT1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà TTM số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Chia phần cho mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho bà M số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực, bà M có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền vợ chồng bà T, ông T1 phải trả nêu trên, thì vợ chồng bà T, ông T1 còn phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.

3/ Về án phí: Bà VTT phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐL.

Bà TTM không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả 821.000 đồng (Tám trăm hai mươi mốt triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012538 ngày 25/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐL.

4/ Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (27/12/2022), bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

5/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ