- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị T kiện đòi quyền sử dụng ruộng"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc buộc ông Nguyễn Xuân T và bà Phạm Thị M trả lại bà T và các con là anh Phạm Văn C, anh Phạm Ngọc T, anh Phạm Văn T, chị Phạm Thị T diện tích đất nông nghiệp là 661m2 gồm 379m2 lô 6, thửa 183 dƣới bãi và 282m2 lô 6, thử…
- Căn cứ chính? Điều 126 Luật Đất đai; Điều 128 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/DS-ST Ngày 10/02/2023 "V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu trả tiền hỗ trợ, bồi thường khi nhà nước thu hồi đất” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thà và bà Nguyễn Thị Bích Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Huyền - Thƣ ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 71/2021/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2021 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu trả tiền hỗ trợ, bồi thƣờng khi nhà nƣớc thu hồi đất" theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 62/2022/QĐST-DS ngày 20/12/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-DS ngày 16/01/2023 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 30/01/2023 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953; địa chỉ: Số 502/37/43 Huỳnh TP, tổ 24, khu phố 3A, phƣờng B, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T: Ông Phạm Ngọc X, sinh năm 1948; địa chỉ: Thôn K, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1947 và bà Phạm Thị M, sinh năm 1949; đều có địa chỉ: Thôn K, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông T, bà Muôn: Ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn K, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).
3. Người có quyền lợi- nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Văn C, sinh năm 1979 (vắng mặt);
- Anh Phạm Ngọc T, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Đều có địa chỉ: Số 502/37/43 Huỳnh TP, tổ 24, khu phố 3A, phƣờng B, thành phố Hồ Chí Minh.
- Anh Phạm Văn T, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 502/23/50 Huỳnh TP, tổ 25, khu phố 3A, phƣờng B, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Chị Phạm Thị T, sinh năm 1984; nơi cƣ trú trƣớc khi xuất cảnh: Số 502/37/43 Huỳnh TP, tổ 24, khu phố 3A, phƣờng B, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ hiện nay: Thụy Sỹ (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của anh C, anh Tiến, anh T, chị T: Ông Phạm Ngọc X, sinh năm 1948; địa chỉ: Thôn K, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).
- UBND thị xã K; ngƣời đại diện theo pháp luật: Chủ tịch UBND thị xã K.
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND thị xã K: Ông Nguyễn Văn Hoàn - Trƣởng phòng Tài nguyên, môi trƣờng thị xã K (vắng mặt).
4. Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Hải H, sinh năm 1961 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961 (có mặt);
- Ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1962 (vắng mặt);
Đều có địa chỉ: Thôn K, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dƣơng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T cùng người đại diện theo ủy quyền ông Phạm Ngọc X (ông X đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của anh T, anh C, anh Tiến, chị T) trình bày:
Năm 1993, hộ gia đình bà T gồm 05 ngƣời đƣợc chia đất nông nghiệp (đất 03) để canh tác gồm bà T và 04 ngƣời con là Phạm Văn T, Phạm Văn C, Phạm Ngọc T, Phạm Thị T, mỗi ngƣời đƣợc chia 440m2, tổng là 2200m2, bị trừ 36m2 vƣờn thừa, còn đƣợc chia 2.164m2 tại các vị trí sau:
Lô 985, tờ bản đồ số 3, khu Mã Dím: 464m2
Lô 992, tờ bản đồ số 3, khu Mã Dím: 120m2
Lô 771, tờ bản đồ số 3, khu Kỹ Thuật: 580m2
Lô 82, tờ bản đồ số 2, bên bãi: 500m2
Lô 09, tờ bản đồ số 2, Bãi Phù: 500m2
Toàn bộ diện tích ruộng của hộ gia đình bà T chƣa đƣợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD đất). Do các con còn nhỏ, chồng đi làm xa, không có điều kiện canh tác nên ngay khi đƣợc chia ruộng, bà T đã bán có thời hạn cho vợ chồng ông Nguyễn Xuân T, bà Phạm Thị M diện tích 838m2 (2 suất) tại các vị trí:
Lô 986, tờ bản đồ số 3, khu Mã Dím: 177m2
Lô 771, tờ bản đồ số 3, khu Kỹ Thuật: 279m2
Lô 09, tờ bản đồ số 2, Bãi Phù: 186m2
Lô 82, tờ bản đồ số 2, bên bãi: 196m2
Thời hạn bán chia làm 2 đợt: Đợt 1 từ năm 1993 đến năm 1998 (5 năm) với số tiền 500.000đồng; đợt 2 từ năm 1999 đến năm 2019 (20 năm) với số tiền 3.200.000đồng (1.600.000đồng/1suất). Cả hai đợt bán, ông T, bà Muôn đã thanh toán tiền đầy đủ (đợt 1 bà T trực tiếp nhận tiền, đợt 2 do bà T đã chuyển vào miền Nam sinh sống từ năm 1995 nên nhờ ông Hậu nhận tiền hộ). Việc thỏa thuận bán ruộng, hai bên chỉ nói miệng chứ không lập văn bản giấy tờ gì. Khi bán ruộng cho vợ chồng ông T, bà T nghĩ bán ruộng cho đến khi nhà nƣớc chia lại ruộng, khi đó bà T đã chuyển khẩu đi nên sẽ không đƣợc chia ruộng nữa. Do đó, khi xã L thực hiện dồn điền đổi thửa (năm 2003 và năm 2015) thì bà T ở xa, không đƣợc gia đình thông báo nên cũng không nắm đƣợc và cũng không quan tâm đến ruộng ở quê nữa, bà T không nhận ruộng mà ngƣời mua ruộng của bà T tự nhận và sử dụng. Thời điểm bán ruộng, bà T có biết thời hạn sử dụng ruộng là 20 năm nên khi bán ruộng cho vợ chồng ông T mới xác định thời hạn là 20 năm (từ năm 1999 đến năm 2019) chứ không biết thời hạn 20 năm tính từ năm 1993 đến năm 2013. Việc xác định thời hạn nhƣ vậy chỉ có ý nghĩa nếu trƣớc thời điểm đó mà nhà nƣớc chia lại ruộng thì bà T sẽ trả lại tiền cho ngƣời mua, chứ bà T xác định bán ruộng cho vợ ông T đến khi nào nhà nƣớc chia lại ruộng. Nhƣ vậy, bà T xác định bản chất của việc bán ruộng có thời hạn cho vợ chồng ông T là cho thuê ruộng. Số tiền bán ruộng, bà T đã dùng để phát triển kinh tế gia đình và chi tiêu sinh hoạt, học hành cho các con.
Qua 2 lần dồn điền đổi thửa thì diện tích ruộng mà bà T bán cho vợ chồng ông T có vị trí mới là: lô 985 khu Mã Dím, diện tích 177m2, lô 6 thửa 183 dƣới bãi, diện tích 379m2 và lô 6 thửa 453, Đồng Dé diện tích 282m2. Năm 2020, UBND thị xã K đã thu hồi một số diện tích ruộng của thôn K, xã L để bàn giao cho công ty Thành Công làm khu dân cƣ mới, trong đó có thu hồi diện tích 177m2 mà bà T đã bán cho vợ chồng ông T có thời hạn và đã bồi thƣờng cho vợ chồng ông T số tiền 61.507.500đồng (vợ chồng ông T đã nhận đủ số tiền này).
Đến nay, thời hạn bán ruộng cho vợ chồng ông T theo thỏa thuận đã hết, bà T đề nghị vợ chồng ông T phải trả lại bà và các con tiền bồi thƣờng và ruộng nhƣng vợ chồng ông T không trả. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T, bà Muôn trả lại bà và các con gồm anh T, anh C, anh Tiến, chị T diện tích ruộng 379m2 lô 6, thửa 183 dƣới bãi và 282m2 lô 6, thửa 453 Đồng Dé (tổng diện tích là 661m2), đồng thời trả lại số tiền 61.507.500đồng là tiền bồi thƣờng khi nhà nƣớc thu hồi ruộng.
Nếu diện tích ruộng trên không còn ở vị trí cũ thì vợ chồng ông T trả cho hộ gia đình bà đủ diện tích 661m2 ở cánh đồng nào cũng đƣợc. Bà có trách nhiệm trả vợ chồng ông T tiền đóng góp làm đƣờng bê tông nội đồng và tiền cải tạo, san lấp bùn, cát vào ruộng nếu ông T chứng minh đƣợc có việc san lấp và cải tạo này.
Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, bị đơn ông Nguyễn Xuân T cùng người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Xuân Đ trình bày: Năm 1993, hộ gia đình bà T đƣợc chia 5 suất ruộng, mỗi suất 440m2, tổng là 2200m2, bị trừ 36m2 vƣờn thừa nên chỉ đƣợc chia 2164m2 tại 4 xứ đồng (2 trong đồng và 2 bãi). Sau khi đƣợc chia ruộng, bà T không có nhu cầu sử dụng ruộng nên đã đề nghị bán cho ông T, bà Muôn 2 suất (880m2) với giá 1.600.000đồng/suất, 2 suất là 3.200.000đồng, ông T, bà Muôn đồng ý mua nhƣng do chƣa có tiền trả ngay nên mặc dù nhận ruộng từ năm 1993 nhƣng đến năm 1999 ông T, bà Muôn mới trả tiền cho bà T, hai bên chỉ thỏa thuận miệng, không lập văn bản giấy tờ nhƣng thỏa thuận là mua vĩnh viễn. Ngay sau khi ông T, bà Muôn đồng ý mua ruộng, hai bên đã đề nghị tiểu ban chia ruộng của thôn chuyển 2 suất ruộng của hộ bà T sang cho hộ ông T nên tiểu ban đã ghi vào sổ giao ruộng của thôn K, thể hiện gia đình ông T có 03 suất, cộng thêm 02 suất mua của bà T thành 05 suất. Năm 1998, vợ chồng ông T, bà Muôn đã đƣợc cấp GCNQSD đất (ruộng) với tổng diện tích là 2.200m2. Năm 2003 và năm 2015, UBND xã L thực hiện dồn điền đổi thửa nên ông T, bà Muôn đƣợc sử dụng ruộng ở các vị trí: Thửa 563, diện tích 458m2 và thửa 183 diện tích 934m2, tổng là 1392m2. Sở dĩ diện tích ruộng thiếu so với GCNQSD đất là do ông T, bà Muôn đã bán đi 742m2 cho anh Tô Đức Dƣơng là ngƣời cùng thôn. Năm 2020, UBND thị xã K thu hồi của ông T, bà Muôn 268,4m2 ruộng (trong đó có 177m2 đã mua của bà T), diện tích còn lại ông T, bà Muôn vẫn canh tác. Do đó, ông T, bà Muôn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
Giả sử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện, ông bà chỉ chấp nhận trả bà T giá đất bị thu hồi là 27 triệu đồng/1 sào, còn các tiền hỗ trợ khác là hỗ trợ cho gia đình ông; đối với diện tích ruộng còn lại, ông bà yêu cầu bà T phải trả lại ông bà tiền đóng góp làm đƣờng nội đồng, tiền cát, bùn ông đã san lấp ruộng.
Người đại diện theo ủy quyền của UBND thị xã K trình bày: Sau khi thực hiện dồn ô đổi thửa, từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn thì vị trí, diện tích các thửa đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn xã L nói chung và hộ gia đình, cá nhân ông Nguyễn Xuân T, bà Phạm Thị M nói riêng có sự biến động. UBND thị xã K đã có Quyết định hủy GCNQSD đất cấp cho các hộ gia đình, trong đó có GCNQSD đất cấp ngày 15/10/1998 cho ông Phạm Văn Thiện và bà Phạm Thị M. Do đó nếu ông T, bà Muôn còn giữ lại GCNQSD đất ngày 15/10/1998 thì giấy chứng nhận này không có giá trị.
Kết quả xác minh tại UBND xã L thể hiện: Tại GCNQSD đất cấp ngày 15/10/1998, sổ giao đất và cấp GCNQSD đất thôn K, xã L đều ghi trên chủ sử dụng đất là ông Phạm Văn Thiện, bà Phạm Thị M. Tại biên bản hòa giải ngày 30/9/2020 của UBND xã L ghi tên bị đơn ông Phạm Văn Thiện nhƣng chữ ký cuối biên bản lại ghi Nguyễn Xuân T, tại một số biên bản khác (biên bản giao nhận diện tích, kết quả đo đạc địa chính thửa đất và căn cƣớc công dân, sổ hộ khẩu gia đình) lại ghi Nguyễn Xuân T. UBND xã xác nhận ông Phạm Văn Thiện và ông Nguyễn Xuân T trong các giấy tờ trên là một ngƣời. GCNQSD đất và sổ đã ghi nhầm từ Nguyễn Xuân T thành Phạm Văn Thiện.
Tại sổ thống kê xác định đối tƣợng nhận ruộng và diện tích giao ruộng lâu dài cho hộ nông dân thôn K, xã L ngày 11/5/1993 thể hiện hộ bà Phạm Thị Tuyết (ghi sai họ của bà T) tổng số khẩu của hộ là 5, số nhân khẩu đƣợc giao ruộng là 5, mỗi nhân khẩu đƣợc nhận 440m2, tổng là 2.200m2; sổ này không thể hiện tên ông T, bà Muôn.
Tại sổ giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trang 29, 30) thể hiện hộ gia đình bà Nguyễn Thị T tổng số nhân khẩu đƣợc giao “3”, cụ thể:
- Số tờ bản đồ 2, số thửa 82/2, diện tích 300m2 xứ đồng Bên Bãi;
- Số tờ bản đồ 2, số thửa 9/13, diện tích 300m2, xứ đồng Bên Bãi;
- Số tờ bản đồ 3, số thửa 985/14, diện tích 264m2, xứ đồng Mã Dím;
- Số tờ bản đồ 3, số thửa 992/41, diện tích 72m2, xứ đồng Mã Dím;
- Số tờ bản đồ 2, số thửa 60+54/27, diện tích 348m2, xứ đồng Lò Gạch;
Tổng diện tích đƣợc chia là 1248m2 trong đó đã trừ 36m2 vƣờn thừa.
Hộ ông Phạm Văn Thiện, bà Phạm Thị M tổng số nhân khẩu đƣợc giao đất là 05, cụ thể:
- Số tờ bản đồ 2, số thửa 82/1, diện tích 500m2 xứ đồng Bên Bãi;
- Số tờ bản đồ 2, số thửa 9/12, diện tích 500m2, xứ đồng Bên Bãi;
- Số tờ bản đồ 3, số thửa 985/15, diện tích 500m2, xứ đồng Mã Dím;
- Số tờ bản đồ 3, số thửa 992/42, diện tích 120m2, xứ đồng Mã Dím;
- Số tờ bản đồ 3, số thửa 771/2, diện tích 580m2, xứ đồng Kỹ Thuật;
Tổng diện tích đƣợc chia là 2.220m2.
Nhƣ vậy, năm 1993, hộ gia đình bà T đƣợc xã duyệt chia 5 khẩu, gia đình ông T đƣợc chia 3 khẩu. Tuy nhiên, theo thông tin xã nắm đƣợc, trƣớc khi thôn giao ruộng cho hộ gia đình cá nhân thì giữa bà T và ông T có thỏa thuận với nhau bà T bán cho ông T 2 suất ruộng. Hai bên đề nghị tiểu ban chia ruộng của thôn K chuyển 2 suất ruộng của gia đình bà T sang tên gia đình ông T nên bà T còn 3 suất, ông T có 5 suất. Cụ thể việc mua bán giữa các bên nhƣ thế nào thì UBND xã không nắm đƣợc, các bên chƣa bao giờ đến UBND xã làm thủ tục chuyển nhƣợng ruộng theo quy định của pháp luật.
Năm 2003, xã L thực hiện dồn điền đổi thửa lần 1. Tại sổ tổng hợp diện tích giao đất năm 2003 của thôn K thể hiện:
- Hộ bà Nguyễn Thị T:
+ Số tờ bản đồ 14, thửa 367 loại đất 1 diện tích hiện trạng sử dụng (đo bằng máy) 270m2, diện tích thôn giao (đo bằng thƣớc dây) 276m2, xứ đồng Mã Dím , phần ghi chú thể hiện “ông Cúc mua”;
+ Số tờ bản đồ 10, thửa 355 loại đất 2 diện tích hiện trạng sử dụng (đo bằng máy) 386m2, diện tích thôn giao (đo bằng thƣớc dây) 389m2, xứ đồng Lò Gạch , phần ghi chú thể hiện “bà Hanh”;
+ Số tờ bản đồ 6, thửa 164 loại đất 3 diện tích hiện trạng sử dụng (đo bằng máy) 303m2, diện tích thôn giao (đo bằng thƣớc dây) 300m2, xứ đồng Dƣới Bãi , phần ghi chú thể hiện “Hằng + quy hoạch bờ 48m2”;
+ Số tờ bản đồ 10, thửa 407 loại đất 3 diện tích hiện trạng sử dụng (đo bằng máy) 339m2, diện tích thôn giao (đo bằng thƣớc dây) 321m2, xứ đồng Bên Bãi, phần ghi chú thể hiện “Hanh”;
- Hộ ông Nguyễn Xuân T:
+ Số tờ bản đồ 14, thửa 366 loại đất 1 diện tích hiện trạng sử dụng (đo bằng máy) 474m2, diện tích thôn giao (đo bằng thƣớc dây) 473m2, xứ đồng Mã Dím;
+ Số tờ bản đồ 10, thửa 331, 337 loại đất 2 diện tích hiện trạng sử dụng (đo bằng máy) 338 + 453m2, diện tích thôn giao (đo bằng thƣớc dây) 773m2, xứ đồng Lò Gạch;
+ Số tờ bản đồ 6, thửa 163 loại đất 3 diện tích hiện trạng sử dụng (đo bằng máy) 539m2, diện tích thôn giao (đo bằng thƣớc dây) 467m2, xứ đồng Dƣới Bãi (phần ghi chú thể hiện “quy hoạch bờ 80m2”);
+ Số tờ bản đồ 10, thửa 383 loại đất 3 diện tích hiện trạng sử dụng (đo bằng máy) 628m2, diện tích thôn giao (đo bằng thƣớc dây) 490 + 360m2, xứ đồng Bên Bãi (phần ghi chú thể hiện “CĐ bãi Lô Hiệp”);
Năm 2015-2016, UBND xã L thực hiện dồn điền đổi thửa lần 2. Tại sổ tổng hợp diện tích dồn điền đổi thửa đất 03 và đất công điền tháng 1/2016 (quyển 03/4 kèm theo 16 trang) của thôn K thể hiện:
- Hộ ông Phạm Văn Xuyện và bà Nguyễn Thị T đƣợc chia ruộng nhƣ sau: Thửa 456, diện tích 399m2 lô 7 Đồng Dé (chƣa cộng 19m2 công điền là đất của xã); thửa 359, diện tích 321m2 lô 6 Bên Bãi (bà Hanh cấy). Tổng cộng là 720m2 + 19m2 công điền = 739m2
- Hộ ông Nguyễn Xuân T bà Phạm Thị M đƣợc chia ruộng nhƣ sau: Thửa 463, diện tích 458m2 lô 2 Mã Dím; thửa 183, diện tích 934m2 lô 6 phía Đông dƣới bãi (chƣa cộng 233m2 đất công điền của xã). Tổng cộng 1392m2 + 233m2 đất công điền = 1625m2.
Thời điểm này, ông T đã chuyển nhƣợng cho ông Tô Đức Dƣơng 742m2 nên còn 1392m2 (thiếu so với năm 1993 là 66m2 do sai số đo đạc và quy hoạch mở rộng bờ).
Năm 2020, UBND thị xã K quyết định thu hồi 9,9ha đất 03 tại xã L để làm dự án khu dân cƣ mới, trong đó có một phần đất của thôn K. Tại thôn K thu hồi đất tại khu đồng Mã Dím và khu Đồng Dộc, trong đó có đất của hộ gia đình ông T và hộ gia đình ông Cúc. Ông T, bà Muôn bị thu hồi 268,4m2 (trong đó có 183,2m2 là nhận chuyển nhƣợng của bà T).
Về giá bồi thƣờng:
- Tiền đất nông nghiệp: 75.000đồng/m2;
- Bồi thƣờng lúa là 10.000đồng/m2;
- Hỗ trợ chuyển đổi nghề tạo việc làm: 225.000đồng/m2;
- Hỗ trợ ổn định đời sống sản xuất tính theo tỷ lệ thu hồi m2;
- Hỗ trợ cải tạo đất là 37.500đồng/m2
Kết quả xác minh tại UBND thị xã K: Đối tƣợng cụ thể đƣợc hỗ trợ bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất nông nghiệp: Theo quy định tại Điều 83 Luật đất đai năm 2013, Điều 75, Điều 77 Luật đất đai 2013, Nghị định 47 ngày 15/5/2014, Thông tƣ 37 ngày 24/6/2014 và Quyết định 37 ngày 22/3/2014 của UBND tỉnh Hải Dƣơng quy định:
- Bồi thƣờng đất nông nghiệp: Đối tƣợng đƣợc hƣởng là chủ sử dụng đất nông nghiệp hợp pháp;
- Bồi thƣờng cải tạo đất (chi phí đầu tƣ vào đất còn lại): Đối tƣợng đƣợc hƣởng là ngƣời trực tiếp sản xuất đã cải tạo đất (có chi phí cải tạo);
- Bồi thƣờng hoa màu, tài sản trên đất (bồi thƣờng lúa): Đối tƣợng đƣợc hƣởng là ngƣời trực tiếp có tài sản trên đất (ngƣời trực tiếp cấy lúa hoặc đầu tƣ tài sản trên đất);
- Hỗ trợ chuyển đổi nghề tạo việc làm: Đối tƣợng đƣợc hƣởng là chủ sử dụng đất hợp pháp sản xuất nông nghiệp (trực tiếp canh tác), đối với đối tƣợng chủ sử dụng đất hợp pháp không trực tiếp sản xuất nông nghiệp (không trực tiếp canh tác trên đất) thì không đƣợc hƣởng khoản hỗ trợ này.
- Hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất: Đối tƣợng đƣợc hƣởng cho ngƣời trực tiếp canh tác tại thửa ruộng bị thu hồi, đối với chủ sử dụng đất hợp pháp không trực tiếp canh tác thì không đƣợc hƣởng.
UBND thị xã K đã chi trả tiền hỗ trợ bồi thƣờng cho vợ chồng ông T và vợ chồng ông Cúc ở L, K là đúng đối tƣợng theo quy định. UBND thị xã K từ chối tham gia tố tụng với tƣ cách ngƣời có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Những người làm chứng trình bày:
- Lời khai của ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Đình D: Thời điểm năm 1993, ông Tùy là trƣởng thôn K, còn ông Dƣơng là kế toàn hợp tác xã L tăng cƣờng về tổ chia ruộng thôn K làm thƣ ký tổ chia ruộng. Năm 1993, căn cứ vào sổ duyệt nhân khẩu đƣợc chia ruộng thì hộ bà T có 5 nhân khẩu, hộ ông T có 3 nhân khẩu, mỗi nhân khẩu đƣợc chia 440m2. Vì bà T và ông T thân nhau nên đề nghị với tổ chia ruộng chia cho hai hộ này gần nhau. Trƣớc khi bà T, ông T nhận ruộng, thì hai ngƣời này đã đề nghị với tổ chia ruộng cắt 2 suất của bà T (880m2) giao cho ông T sử dụng nên tổ chia ruộng đã giao 2 suất của bà T cho ông T nên tại sổ giao đất và cấp GCNQSD đất của thôn K, tổ chia ruộng mới ghi số nhân khẩu hộ bà T đƣợc giao “3”, hộ ông T “5”. Các ông chỉ biết hai bên đề nghị giao ruộng cho nhau sử dụng còn cụ thể nhƣ thế nào thì các ông không nắm đƣợc.
- Lời khai của ông Nguyễn Hải H: Ông là em rể của bà T và là ngƣời cùng xóm với ông Nguyễn Xuân T, ông Phạm Xuân Cúc. Khoảng năm 1988, gia đình bà T bán nhà và toàn bộ đất ruộng 03 để chuyển vào miền Nam sinh sống. Khi đó gia đình bà T có bán ruộng cho vợ chồng ông T, bà Muôn. Việc thỏa thuận mua bán giữa hai bên nhƣ thế nào ông không nắm đƣợc, chỉ biết hai bên thỏa thuận miệng. Bà T gọi điện nhờ ông nhận tiền bán ruộng của gia đình bà từ ông T. Giá bán ruộng là 1.600.000đồng/suất, còn tổng số tiền ruộng của ông T bao nhiêu ông không nhớ. Khoảng 2 năm sau bà T về địa phƣơng và ông đã bàn giao toàn bộ tiền bán ruộng cho bà T.
Kết quả định giá thể hiện: Giá đất nông nghiệp tại thửa số 05, tờ bản đồ số 02 và thửa 985 tờ bản đồ số 03 tại thôn K, xã L, thị xã K là 75.000đồng/m2.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiên của nguyên đơn.
Quan điểm của đại diện VKS: Việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đƣơng sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Việc xét xử tại phiên tòa thực hiện đúng trình tự luật định. Về hƣớng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T; bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) nhận định:
1. Về tố tụng:
Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T, bị đơn là ông Nguyễn Xuân T, bà Phạm Thị M, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh T, anh C, anh Tiến, chị T vắng mặt tại phiên tòa nhƣng đã có ngƣời đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Ngọc X và ông Nguyễn Xuân Đ có mặt; ngƣời làm chứng là ông Nguyễn Văn T có mặt; ngƣời đại diện theo ủy quyền của UBND thị xã K vắng mặt; những ngƣời làm chứng khác đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần 2 nhƣng vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ quy định tại các điều 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt những ngƣời trên.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đòi lại đất ruộng và tiền nhà nƣớc đã bồi thƣờng khi thu hồi đất nhƣng vụ án có ngƣời có quyền lợi- nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị T đang cƣ trú ở nƣớc ngoài (Thụy Sỹ) nên căn cứ quy định tại Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng.
2. Về nội dung:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu vợ chồng ông T, bà Muôn phải trả lại gia đình bà T diện tích 661m2 ruộng và số tiền 61.507.500đồng là tiền bồi thƣờng khi nhà nƣớc thu hồi ruộng, HĐXX thấy: Các đƣơng sự đều thừa nhận, năm 1993, hộ gia đình bà Nguyễn Thị T gồm 5 ngƣời (bà T và các con là anh T, anh Tiến, anh C, chị T) đƣợc Nhà nƣớc giao đất nông nghiệp, tổng diện tích là 2.164m2 (đã trừ 36m2 đất vƣờn). Nội dung này phù hợp với biên bản xác minh tại UBND xã L nên có cơ sở xác định năm 1993, hộ gia đình bà T có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đƣợc giao 2.164m2. Bà T cho rằng đã chuyển nhƣợng 2 suất ruộng (838m2) có thời hạn cho vợ chồng ông T, bà Muôn, thời hạn chuyển nhƣợng làm 2 đợt: đợt 1 thời hạn 5 năm (từ năm 1993 đến năm 1998) với giá 500.000đồng; đợt 2 thời hạn 20 năm (từ năm 1999 đến năm 2019) với giá 1.600.000đồng/suất, bà đã nhận đủ tiền của vợ chồng ông T, nên thực chất là bà cho vợ chồng ông T thuê ruộng. Tuy nhiên, bà T không đƣa ra đƣợc chứng cứ gì chứng minh có việc thuê ruộng giữa bà và vợ chồng ông T, cũng nhƣ thời hạn mà vợ chồng ông T đƣợc sử dụng ruộng của bà T. Trong khi đó, ông T, bà Muôn khẳng định đã mua ruộng của bà T từ năm 1993 với giá 1.600.000đồng/suất (2 suất là 3.200.000đồng), ông bà sử dụng ruộng từ năm 1993 nhƣng đến năm 1999 thì ông bà mới thanh toán hết tiền cho bà T. Lời khai của ông T, bà Muôn phù hợp với biên bản xác minh tại UBND xã L, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng là ông Tùy, ông Dƣơng, ông Hậu (xác định có việc bà T chuyển nhƣợng ruộng cho vợ chồng ông T, bà Muôn). Bên cạnh đó, tại biên bản ghi lời khai ngày 15/12/2022 và tại phiên tòa, ngƣời đại diện theo ủy quyền của bà T là ông Phạm Ngọc X khẳng định bản chất bà T bán ruộng cho vợ chồng ông T là bán đến khi nhà nƣớc chia lại ruộng. Bà T xác định thời hạn bán ruộng là 20 năm (từ năm 1999 đến năm 2019), để nếu trƣớc thời điểm đó nhà nƣớc chia lại ruộng thì bà T sẽ trả lại tiền cho ngƣời mua. Điều đó chứng tỏ khi bà T bán ruộng cho vợ chồng ông T là không xác định thời hạn. Thời điểm bà T đƣợc chia ruộng, thời hạn sử dụng ruộng đƣợc quy định là 20 năm (từ năm 1993 đến năm 2013) nên bà T cho rằng bà bán ruộng thời hạn 20 năm đƣợc tính từ năm 1999 đến năm 2019 là không phù hợp.
Mặt khác, xem xét thực tế việc sử dụng ruộng của vợ chồng ông T thì thấy năm 1993, vợ chồng ông T nhận chuyển nhƣợng ruộng của bà T, hai bên đã đề nghị tổ chia ruộng của thôn chia 2 suất ruộng của hộ bà T sang vợ chồng ông T nên sổ giao đất và cấp GCNQSD đất thôn K (trang 29), diện tích ruộng của bà T chuyển nhƣợng cho vợ chồng ông T đã mang tên ông T; hộ ông T đã trực tiếp canh tác trên ruộng, đƣợc UBND huyện K cấp GCNQSD đất cả diện tích đã mua của bà T. Từ năm 1995, vợ chồng bà T đã bán toàn bộ nhà đất và chuyển khẩu cả gia đình vào miền Nam sinh sống. Vào năm 2003 và năm 2015, UBND xã L đã thực hiện dồn điền đổi thửa, diện tích ruộng mà bà T chuyển nhƣợng cho vợ chồng ông T vẫn do vợ chồng ông T sử dụng nhƣng vị trí đã thay đổi. Thỉnh thoảng bà T vẫn về thăm quê nhƣng không có ý kiến gì về việc dồn điền đổi thửa, về vị trí cũng nhƣ diện tích ruộng mà gia đình bà đã chuyển nhƣợng cũng nhƣ diện tích ruộng còn lại của gia đình bà, không có tranh chấp gì với bên nhận chuyển nhƣợng. Đến năm 2020, khi dự án khu dân cƣ mới của xã L đƣợc thực hiện (trong đó có thu hồi một số diện tích ruộng của ông Cúc, ông T và bồi thƣờng tiền) thì bà T mới có yêu cầu đòi lại ruộng.
Do đó, có căn cứ khẳng định vào năm 1993, hộ gia đình bà T không còn nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp nên đã chuyển nhƣợng cho vợ chồng ông T 838m2 đất ruộng không xác định thời hạn. Bên bán là bà T đã nhận đủ tiền, bên mua là vợ chồng ông T đã nhận ruộng và sử dụng ổn định đến năm 2020.
Xét giao dịch chuyển nhƣợng ruộng giữa bà T và vợ chồng ông T thì thấy: Thời điểm xác lập giao dịch chuyển nhƣợng ruộng (năm 1993), các bên không lập văn bản, giấy tờ mà chỉ thỏa thuận miệng nhƣng các đƣơng sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, việc giao dịch hoàn toàn tự nguyện, mục đích của giao dịch không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội; mặc dù diện tích ruộng 838m2 là tiêu chuẩn của hộ gia đình bà T gồm 5 ngƣời gồm bà T và các con là anh T, anh Tiến, anh C, chị T và chỉ có một mình bà T tham gia giao dịch chuyển nhƣợng, song ngƣời đại diện theo ủy quyền của bà T xác định thời điểm đó các con bà T còn ít tuổi, sống phụ thuộc bà T; hơn nữa bà T đã nhận đủ số tiền chuyển nhƣợng ruộng và dùng tiền đó để phát triển kinh tế gia đình, chi tiêu sinh hoạt, học tập cho các con nên căn cứ tinh thần án lệ số 15/2017/AL đƣợc công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC); án lệ số 55/2022/AL đƣợc công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án TANDTC và tiểu mục 2.3, phần II của Nghị quyết 02/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, việc chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa bà T và vợ chồng ông T là thực tế, có hiệu lực và đƣợc công nhận.
Tại Nghị quyết 49/2013/QH13 ngày 21/6/2013 của Quốc hội quy định “Khi hết thời hạn sử dụng, Nhà nƣớc không điều chỉnh lại đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối đã giao cho hộ gia đình theo Luật Đất đai số 13/2003/QH11; hộ gia đình cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối đƣợc tiếp tục sử dụng đất cho đến khi Luật Đất đai (sửa đổi) đƣợc ban hành và có hiệu lực thi hành, khi đó thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối của hộ gia đình, cá nhân áp dụng theo Luật Đất đai (sửa đổi)”. Theo quy định tại khoản 3 Điều 210 Luật Đất đai năm 2013, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã nhận chuyển quyền sử dụng đất trƣớc ngày Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, khi hết thời hạn sử dụng đất, nếu có nhu cầu thì đƣợc tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật Đất đai năm 2013. Thời hạn sử dụng đất tính từ ngày 15/10/2013 đối với trƣờng hợp hết hạn vào ngày 15/10/2013 theo quy định của Luật Đất đai năm 2003; tính từ ngày hết thời hạn giao đất đối với trƣờng hợp hết hạn sau ngày 15/10/2013. Nhƣ vậy, khi hết hạn sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2003, Nhà nƣớc không điều chỉnh (chia) lại đất nông nghiệp mà tiếp tục công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đang trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp hợp pháp.
Từ năm 2013 đến nay, vợ chồng ông T, bà Muôn vẫn trực tiếp sử dụng diện tích đất đã nhận chuyển nhƣợng của bà T nên đƣợc tiếp tục sử dụng đất. Năm 2020, UBND thị xã K thực hiện dự án khu dân cƣ mới nên đã thu hồi của vợ chồng ông T 268,4m2 đất (trong đó có 183,2m2 là nhận chuyển nhƣợng của bà T) và bồi thƣờng số tiền 61.507.500đồng. Ông T, bà Muôn đƣợc quyền sử dụng đất hợp pháp nên số tiền này thuộc quyền sở hữu của ông T, bà Muôn, không phải của hộ gia đình bà T.
Từ những phân tích trên, HĐXX không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
Ngƣời đại diện theo ủy quyền của ông T, bà Muôn có ý kiến trình bày nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn yêu cầu bà T phải trả bị đơn tiền làm đƣờng nội đồng và tiền tôn tạo, san lấp đất, song phía bị đơn không làm đơn yêu cầu phản tố, không xác định số tiền phải trả là bao nhiêu và cũng không đƣa ra chứng cứ chứng minh. Hơn nữa, trong vụ án này, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không đƣợc chấp nhận nên khoản tiền làm đƣờng nội đồng và tiền san lấp, cải tạo ruộng của bị đơn vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của bị đơn, do đó HĐXX không xem xét đề nghị của bị đơn buộc nguyên đơn phải trả tiền làm đƣờng nội đồng và tiền san lấp, cải tạo ruộng.
Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của bà T không đƣợc chấp nhận nên bà T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo quy định tại Điều 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã đồng thời tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với hai vụ án dân sự mà nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện hai bị đơn khác nhau (ông Phạm Xuân Cúc và ông Nguyễn Xuân T) cùng ngày với tổng chi phí là 8.500.000đồng, nên chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản của mỗi vụ là 4.250.000đồng. Do đó, đối với vụ án này, bà T phải chịu 4.250.000đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản (bà T đã nộp xong).
[12] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của bà T không đƣợc chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bà T là ngƣời cao tuổi (trên 60 tuổi) nên đƣợc miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 157, 165, 228, 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 3, Điều 20, Điều 30 Luật Đất đai năm 1993; khoản 1 Điều 126; khoản 1 Điều 128; khoản 3 Điều 210 Luật Đất đai năm 2013; Điều 74 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính Phủ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc buộc ông Nguyễn Xuân T và bà Phạm Thị M trả lại bà T và các con là anh Phạm Văn C, anh Phạm Ngọc T, anh Phạm Văn T, chị Phạm Thị T diện tích đất nông nghiệp là 661m2 gồm 379m2 lô 6, thửa 183 dƣới bãi và 282m2 lô 6, thửa 453 Đồng Dé thuộc thôn K, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dƣơng cùng số tiền 61.507.500đồng do Nhà nƣớc bồi thƣờng khi thu hồi đất nông nghiệp.
2. Về chi phí tố tụng: Bà T phải chịu 4.250.000đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, bà T đã nộp đủ.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T đƣợc miễn án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Đƣơng sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. ơNơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đƣơng sự;
| - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dƣơng; - Lƣu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đoàn Thị Hƣơng Nhu |