- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "NGÂN HÀNG TMCP Q - CTY H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q với bị đơn Công ty TNHH MTV H về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/KDTM-ST Ngày: 29/7/2022 Về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hoài Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2022/TLST-KDTM ngày 09 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2022/QĐST-KDTM ngày 14 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q; Trụ sở: 28C -28D phố B, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: Số 175 đường K, Phường 3, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tống Long H, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 175 đường K, Phường 3, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 05/11/2021). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH MTV H; địa chỉ: 65B/7 khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 11 năm 2021, lời khai trong quá trình tố tụng, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Tống Long H trình bày:
Ngày 22/12/2016, Ngân hàng thương mại cổ phần Q (gọi tắt là Ngân hàng) và Công ty TNHH MTV H (gọi tắt là Công ty) ký hợp đồng cho vay số 1035/16/HĐCV/101-79 ngày 22/12/2016. Theo nội dung hợp đồng hai bên đã ký, Ngân hàng cho công ty vay số tiền 1.600.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, phương thức vay từng lần, lãi suất theo từng giấy nhận nợ, lãi suất 8.9% được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên, lãi suất kỳ tiếp theo được điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 3.5%, mục đích vay thanh toán tiền mua ô tô nhãn hiệu Honda Odysey 2.4CVT, ngân hàng đã giải ngân cho công ty. Để đảm bảo cho khoản vay trên Ngân hàng và Công ty ký hợp đồng thế chấp số 828/2016/HĐTC/101-79 ngày 22/12/2016, tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Honda Odysey 2.4CVT, biển số 61A-339.96. Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty đã thanh toán cho nguyên đơn được 12/60 kỳ, với số tiền nợ gốc là 336.524.750 đồng, nợ lãi 313.006.827 đồng. Ngoài số tiền đã trả trên Công ty không trả số tiền nào khác, đã vi phạm thời hạn trả gốc và trả lãi. Ngân hàng nhiều lần gửi văn bản yêu cầu Công ty trả nợ nhưng không thực hiện. Tính đến ngày 14/7/2022, Công ty còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 2.097.283.873 đồng, trong đó: Nợ gốc 1.263.475.250 đồng, nợ lãi trong hạn 186.892.795 đồng, lãi quá hạn 559.627.555 đồng, lãi chậm trả 87.351.273 đồng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/7/2022 là 2.097.283.873 đồng. Tiền lãi phát sinh từ ngày 15/7/2022 theo mức lãi suất đã thỏa thuận cho đến khi Công ty thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp Công ty không thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng yêu cầu được phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
- Đối với bị đơn Công ty TNHH MTV H:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bằng hình thức thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để yêu cầu bị đơn có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của nguyên đơn cũng như cung cấp các chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không cung cấp chứng cứ cho Tòa án. Ngày 14/7/2022, Tòa án triệu tập bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do.
- kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D n, t nh Bình Dương:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về sự vắng mặt của các đương sự: Theo biên bản xác minh ngày 09/6/2022 của Tòa án tại Công an phường B, thành phố D xác định Công ty TNHH MTV H không còn hoạt động tại địa chỉ 65B/7 khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để triệu tập bị đơn về làm việc nhưng bị đơn vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc. Tòa án đã triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa vào các ngày 25/7/2022 và 29/7/2022 nhưng vắng mặt không có lý do. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định.
Về nội dung vụ án: Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp tài liệu chứng cứ nên Tòa án căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp làm căn cứ giải quyết vụ án. Xét hợp đồng cho vay số 1035/16/HĐCV/101-79 ngày 22/12/2016 được giao kết giữa Ngân hàng và Công ty đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Ngân hàng đã giải ngân như thỏa thuận thông qua Giấy nhận nợ, trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn được 12/60 kỳ, với số tiền nợ gốc là 336.524.750 đồng, nợ lãi 313.006.827 đồng. Tính đến ngày 14/7/2022, Công ty còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 2.097.283.873 đồng, trong đó: Nợ gốc 1.263.475.250 đồng, nợ lãi trong hạn 186.892.795 đồng, lãi quá hạn 559.627.555 đồng, lãi chậm trả 87.351.273 đồng. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay nên nguyên đơn có quyền yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ khoản vay cho nguyên đơn, xét có căn cứ buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền trên.
Về tiền lãi: Theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay số 1035/16/HĐCV/101-79 ngày 22/12/2016 thì bị đơn còn phải trả tiền lãi đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, có căn cứ buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng đã giao kết từ ngày 15/7/2022 cho đến khi thanh toán xong tiền nợ cho nguyên đơn.
Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Xét hợp đồng thế chấp tài sản số 828/2016/HĐTC/101-79 ngày 22/12/2016, Công ty thế chấp cho Ngân hàng 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda Odysey 2.4CVT, biển số 61A-339.96. Tại điều 4 của hợp đồng quy định trường hợp bị đơn vi phạm nghĩa vụ dẫn đến nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ trước hạn thì được quyền thu hồi tài sản thế chấp. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm thỏa thuận tại hợp đồng thế chấp. Xét thỏa thuận trên là phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của nguyên đơn.
Về chi phí tố tụng: Chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) nguyên đơn đã tạm ứng, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã tạm ứng trên nên cần buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn.
Từ những phân tích nêu trên, xét có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 90, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 317, Điều 318 và Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q với bị đơn Công ty TNHH MTV H về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc Công ty TNHH MTV H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền còn nợ phát sinh từ hợp đồng cho vay số 1035/16/HĐCV/101-79 ngày 22/12/2016 tạm tính đến ngày 14/7/2022 với số tiền là 2.097.283.873 đồng (Hai tỷ, không trăm chín mươi triệu, hai trăm tám mươi ba nghìn, tám trăm bảy mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc 1.263.475.250 đồng (Một tỷ, hai trăm sáu mươi ba triệu, bốn trăm bảy mươi lăm nghìn, hai trăm năm mươi đồng), nợ lãi trong hạn 186.892.795 đồng (Một trăm tám mươi sáu triệu, tám trăm chín mươi hai nghìn, bảy trăm chín mươi lăm đồng), lãi quá hạn 559.627.555 đồng (Năm trăm năm mươi chín triệu, sáu trăm hai mươi bảy đồng, năm trăm năm mươi lăm đồng), lãi chậm trả 87.351.273 đồng (Tám mươi bảy triệu, ba trăm năm mươi mốt nghìn, hai trăm bảy mươi ba đồng).
Công ty TNHH MTV H còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15/7/2022 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho vay số 1035/16/HĐCV/101-79 ngày 22/12/2016 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
2. Trường hợp Công ty TNHH MTV H không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần Q được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda Odysey 2.4CVT, biển số 61A-339.96 theo hợp đồng thế chấp tài sản số 828/2016/HĐTC/101-79 ngày 22/12/2016 để thu hồi nợ.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn Công ty TNHH MTV H phải trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
4. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH MTV H phải chịu 73.945.677 đồng (Bảy mươi ba triệu, chín trăm bốn mươi năm nghìn, sáu trăm bảy mươi bảy đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền 33.682.432 đồng (Ba mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi hai nghìn, bốn trăm ba mươi hai đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003937 ngày 06/6/2022 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; -TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Dĩ An; - CCTHADS thành phố Dĩ An; - Lưu: VT, HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Quyết |