vanban.org

Bản án 07/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 04/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Lù Mo H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Lù Mo H. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh ni… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Mo H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lù Mo H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HSST
Ngày: 04/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Pờ Pó Chừ và bà Pờ Hồng Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đới Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Bùi Tống Chung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2022/TL-ST-HS, ngày 11 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo.

- Lù Mo H: Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1979; nơi sinh: Huyện Mường T, tỉnh Lai C; Nơi ĐKHKTT: Bản Thò M, xã Pa Vệ S, huyện Mường T, tỉnh Lai C; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 00/12; Dân tộc: La Hủ; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; Con ông Lù Phì X, đã chết và con bà Giàng Mỳ G, sinh năm 1962; Vợ, Vàng Lò N, sinh năm 1999; Con, có 02 con; con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; Bị bắt ngày 10/03/2022, bị tạm giữ từ ngày 11/03/2022 đến ngày 20/03/2022 thì bị khởi tố và được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Pa Vệ S, huyện Mường T, tỉnh Lai C cho đến nay - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lù Mo H: Ông Nguyễn Xuân Oánh - Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai C - Có mặt.

- Người làm chứng:

+. Anh: Vàng Phí X, sinh năm 2007 - Trú tại: Bản Tá B, xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.

+. Anh: Vàng Lý X, sinh năm 1984 - Trú tại: Bản Vạ P, xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.

- Người đại diện cho người làm chứng Vàng Phí X: Ông Vàng Xú C, sinh năm 1979 - Trú tại: Bản Tá B, xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C (là bố đẻ của Vàng Phí X) - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 10/03/2022, Lù Mo H điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, không có biển kiểm soát chở Vàng Phí X đi từ bản Thò M, xã Pa Vệ S đến xã Tá B, huyện Mường T để nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, khi đi đến cầu Nậm K thuộc xã Nậm K, H bảo X xuống xe đứng đợi rồi H điều khiển xe máy đi lên xã Tà T. Trên đường đi H gặp một người đàn ông lạ mặt, qua trao đổi, H mua được của người đàn ông này 01 (môt) gói Heroine bên ngoài bằng mảnh nilon màu trắng với giá 100.000 đồng, mục đích là để sử dụng và bán kiếm lời. H cất giấu gói Heroine vào trong túi áo ngực bên trái của chiếc áo khoác đang mặc rồi điều khiển xe máy quay lại đón X đi lên xã Tá B. Khoảng 17 giờ cùng ngày khi đến bản Tá B, H và X đi vào nhà ông Vàng Xú C là bố đẻ của Vàng Phí X để ăn cơm, trong lúc ngồi ăn cơm thì có Vàng Lý X và Lù Mó D đi vào, khoảng 02 phút sau thấy H đi lên gian nhà chính nên X cũng đi theo, H ngồi lên chiếc giường ngủ rồi lấy gói Heroine từ túi áo ngực ra bẻ một ít cho vào giấy bạc và dùng bật lửa đốt để hít, số Heroine còn lại H cất giấu vào trong túi áo khoác, khi H đang hít Heroine thì X đi đến xin hít Heroine với H, nhưng H không cho và nói với X muốn hít thì đưa 50.000 đồng, X đưa cho H 50.000 đồng thì H lấy gói Heroine từ trong túi áo khoác ra bẻ một ít Heroine đưa cho X, số Heroine còn lại H tiếp tục cất giấu vào trong túi áo khoác. Hồi 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi X vừa sử dụng hết số Heroine thì bị tổ công tác Công an xã Tá B phát hiện, bắt quả tang, X khai nhận số Heroine sử dụng là do X mua của H và H cũng thừa nhận việc bán Heroine cho X và giao nộp số Heroine đang cất giấu trên người cùng với số tiền 50.000 đồng do bán Heroine mà có. Tổ công tác lập biên bản thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định tư pháp số 32/KLGĐ, ngày 11/03/2022 của người giám định tư pháp thuộc Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C kết luận: 01 gói chất bột khô, màu trắng vật chứng thu giữ của Lù Mo H có khối lượng là 0,2 gam.

Tại kết luận giám định số: 257/GĐ-KTHS ngày 14/03/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại kết luận giám định số: 544/GĐ-KTHS ngày 16/06/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng có mã ký hiệu AV 21469956 gửi giám định là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số: 88/CT-VKS-MT ngày 11 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T truy tố Lù Mo H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:

- Trách nhiệm hình sự: Đối với Lù Mo H về tội danh "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lù Mo H từ: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (năm) năm tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh nilon màu trắng; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng có mã ký hiệu AV 21469956 gửi giám định là tiền thật, do Lù Mo H bán trái phép Heroine cho Vàng lý X mà có.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T về tội danh "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sinh sống ở xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 20 giờ 30 phút ngày 10/03/2022 tại bản Tá B, xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Lù Mo H đã bán trái phép một ít Heroine cho Vàng Lý X để lấy số tiền 50.000 đồng. Ngoài ra H còn tàng trữ trái phép 0,2 gam Heroine để sử dụng và bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã Tá B, huyện Mường T phát hiện bắt quả tang, số Heroine mà H đang tàng trữ và số Heroine Hừ bán cho Vàng Lý X có cùng chung nguồn gốc. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo Lù Mo H luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo, nhận thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sinh sống ở xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lù Mo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân bị cáo Lù Mo H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, nhận thức pháp luật hạn chế, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi mua bán, tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy và lợi ích của bản thân nên đã cố ý phạm tội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình khó khăn sinh sống ở xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh nilon màu trắng; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng có mã ký hiệu AV 21469956 gửi giám định là tiền thật, do Lù Mo H bán trái phép Heroine cho Vàng lý X mà có. [8]. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình khó khăn sinh sống ở xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Lù Mo H đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử lý vật chứng; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. [10]. Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán Heroine với giá 100.000 đồng cho bị cáo Lù Mo H. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [11]. Đối với Vàng Phí X. Qúa trình điều tra xác định quá trình đi cùng với H, X không biết H đang tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đồng phạm với H. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Đối với Vàng Xú C. Do C không biết việc H bán trái phép Heroine cho X và việc H, X sử dụng Heroine trong nhà mình nên C không phạm tội. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Đối với Vàng Lý X, sau khi mua được Heroine với H, X đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng, ngày 20/05/2022 Công an huyện Mường T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức cảnh cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T không truy tố đối với X. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo: Lù Mo H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lù Mo H: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 11/03/2022 đến ngày 20/03/2022. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Lù Mo H.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh nilon màu trắng; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng có mã ký hiệu AV 21469956 gửi giám định là tiền thật, do Lù Mo H bán trái phép Heroine cho Vàng lý X mà có.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện cho người làm chứng Vàng Phí X dưới 18 tuổi được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật tại nơi cư trú.

Cỡ chữ