vanban.org

Bản án 07/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật tố tụng hình sự: khoản 02 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, điÓm a kho¶n

1 §iÒu 23 cña NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? luật tố tụng hình sự: khoản 02 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, điÓm a kho¶n
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HSST
Ngày 19/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Bửu Khánh

2. Ông Nguyễn Chí Bền

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Phượng là Thư ký Toà án nhân dân

huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tham gia phiên tòa:

Ông Lê Thành Thủ – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng

Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:

63/2021/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

73/2022/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 01 năm 2022, đối với bị cáo:

1. Trần Duy L (tên khác L. H), sinh năm: 1974; tại thành phố V, tỉnh H; Nơi

cư trú: ấp Hòa B, xã H, huyện G, tỉnh K; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học

vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo thiên chúa; quốc tịch: Việt

Nam; con ông Trần Văn Ch (chết) và bà Nguyễn Thị Ph; có vợ tên Trần Thanh Th;

con có 01 người sinh năm 2007; tiền án : Có 01 tiền án vào ngày 19/7/2013 bị Tòa

án nhân dân tỉnh Hậu Giang xử phạt 10 năm tù về tội « Mua bán trái phép chất ma

túy » chưa nộp phạt bổ sung 20.000.000 đồng, chấp hành án xong vào ngày

31/8/2019; tiền sự: Chưa; nhân thân: xấu; Bị bắt tạm giữ ngày 23/8/2021, chuyển

sang tạm giam ngày 01/9/2021.

Bị cáo bị tạm giam có mặt.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Chị Trần Phương L, sinh năm: 1992; trú tại: ấp 8, xã A, huyện L, tỉnh H

(có mặt).

2.2. Anh Võ Văn L, sinh năm: 1990; trú tại: ấp X, xã H, huyện G, tỉnh K

(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ, ngày 23/8/2021 Công an huyện Giồng Riềng bắt quả

tang Trần Duy L, sinh năm: 1974, ngụ tại ấp Hòa B, xã H, huyện G, tỉnh K. Qua kiểm tra thu giữ trong túi quần bên phải của Linh phát hiện 01 gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có 02 bịch ny lon hàn kín hai đầu có đặc điểm kích thước như nhau, 01 bịch ny lon có rãnh cài viền xanh kích thước 4,5 x 5,5 cm và 01 bịch ny lon có rãnh cài viền đỏ kích thước 3,5 x 4,5 cm; Tiếp tục kiểm tra phát hiện trong ví (bóp) có 01 bịch ny lon kích thước 05 x 4,5 cm bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất, nghi là chất ma túy cùng 01 ống thủy tinh chứa nhiều chất bám nghi là ma túy và nhiều dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 03 ngày trước đó, Trần Duy L

thông qua mạng xã hội mua ma túy với số tiền 2.300.000 đồng, khi đặt mua xong shipper (không rõ họ tên, địa chỉ) giao trực tiếp cho L. Nhận ma túy xong L cất giữ trong người mục đích để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ ngày 23/8/2021, L điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 95B1 – 237.15 đi từ ấp X, xã H, huyện G, tỉnh K, đi qua chốt kiểm soát phòng chống dịch covid 19 thuộc ấp Hai L, xã B, huyện G, tỉnh K, tại đây bị lực lượng chốt kiểm soát phòng chống dịch covid 19 kiểm tra phát hiện thu giữ trên người L 03 bịch ny lon bên trong chứa nhiều hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất, nghi là chất ma túy cùng 01 ống thủy tinh chứa nhiều chất bám nghi là ma túy và nhiều dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy.

Riêng về nguồn gốc ma túy Trần Duy L thông qua mạng xã hội đặt mua và

người shipper (không rõ nhân thân lai lịch) giao ma túy cho Trần Duy L. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng tiếp tục phối hợp điều tra làm rõ, khi nào có kết quả đề xuất xử lý sau.

Về vật chứng trong vụ án:

- Tiền Việt Nam 460.000 đồng (bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Ware Alpha màu trắng, biển kiểm soát

95B1-237.15, số khung RLHHC 1251FY048660; số máy HC 12E – 70482, đã qua sử dụng.

- 01 cây kéo bằng kim loại, dài khoảng 15 cm, có cán bằng nhựa màu xanh;

- 01 lọ thủy tinh dài khoảng 12 cm, bên trên không có nắp đậy, bên trong có

01 ống hút bằng nhựa màu trắng, trên miệng chai có quấn băng keo;

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, ốp lưng màu bạc, số seri

27282160QT03414. Bên trong điện thoại có gắn 02 sim số thuê bao 0939144787 và 0916836063.

- 02 mẫu vật giám định được niêm phong: Mẫu 01 và mẫu 02 số 834/2021

có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong

Nguyễn Hoàng Khanh và dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên

Giang.

Tại bản kết luận giám định số 834/KL-KTHS, ngày 29/8/2021 của phòng kỹ

thuận hình sự tỉnh Kiên Giang, kết luận:

Mẫu 01: Nhiều hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa 03 bịch ny lon

được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối

lượng mẫu gửi giám định là 4,3280 gam.

Mẫu 02: Chất bám dính chứa trong 01 ống thủy được niêm phong gửi giám

định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là

0,0234 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị

định 73 ngày 15/5/2018 của chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 08/11/2021 Viện kiểm sát nhân dân

huyện Giồng Riềng đã truy tố bị cáo Trần Duy L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết

định truy tố đối với bị cáo Trần Duy L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c kho¶n 1 Điều 249, điểm h khoản 1

Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 cña Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo L từ

18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp khó khăn về kinh tế,

không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về vật chứng của vụ án: Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền

460.000 đồng, một chiếc điện thoại di động; Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau

giám định, dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy.

Tuyên trả lại cho chị Trần Phương L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Ware

Alpha màu trắng, biển kiểm soát 95B1-237.15, số khung RLHHC 1251FY048660;

số máy HC12E – 70482, đã qua sử dụng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Giồng

Riềng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, Kiểm sát viên trong

quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định

của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người

khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo:

Trần Duy L là đối tượng nghiện ma túy, vào lúc 17 giờ ngày 23/8/2021 bị

cáo điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 95B1 – 237.15 đi từ ấp X, xã H, huyện G, tỉnh K, đi qua chốt kiểm soát phòng chống dịch covid 19 thuộc ấp Hai L, xã B, huyện G, tỉnh K. Tại đây bị lực lượng chốt kiểm soát phòng chống dịch covid 19 kiểm tra phát hiện thu giữ trên người L 03 bịch ny lon bên trong chứa nhiều hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất, nghi là chất ma túy cùng 01 ống thủy tinh chứa nhiều chất bám nghi là ma túy và nhiều dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy.

Qua lời trình bày trên của bị cáo cho thấy đã phù hợp với các tài liệu chứng

cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Căn cứ vào kết luận giám định số: 834/KL-KTHS, ngày 29/8/2021 của phòng kỹ thuật hình sự tỉnh Kiên Giang, kết luận: Nhiều hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa 03 bịch ny lon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 4,3280 gam; Chất bám dính chứa trong 01 ống thủy được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0234 gam; Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của chính phủ.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng truy tố bị cáo Trần Duy

L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 01 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp không

những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh trật tự an toàn ở địa phương. Xét lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ cho nên cần xử lý nghiêm để phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình

tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm tội được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự

quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản………..”. Xét thấy bị cáo L do không có nghề nghiệp ổn định, sống

phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ

sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ hình sự

tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 460.000 đồng (số tiền này đã nộp vào

kho bạc Nhà nước huyện Giồng Riềng ngày 21/9/2021) gồm 01 điện thoại di động

nhãn hiệu hiệu Redmi màu đen, ốp lưng màu bạc, số seri 27282160QT03414. Bên

trong điện thoại có gắn 02 sim số thuê bao 0939144787 và 0916836063, bị cáo

dùng vào việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy 02 mẫu vật giám định được niêm phong: Mẫu 01 và mẫu

02 số 834/2021 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng

kiến niêm phong Nguyễn Hoàng Khanh và dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự

Công an tỉnh Kiên Giang; 01 cây kéo bằng kim loại, dài khoảng 15 cm, có cán

bằng nhựa màu xanh; 01 lọ thủy tinh dài khoảng 12 cm, bên trên không có nắp

đậy, bên trong có 01 ống hút bằng nhựa màu trắng, trên miệng chai có quấn băng

keo.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Ware Alpha màu trắng, biển kiểm

soát 95B1-237.15, số khung RLHHC 1251FY048660; số máy HC 12E – 70482, đã

qua sử dụng là của Trần Phương L mua trả góp, quá trình điều tra xác định chủ sở

hữu chiếc xe là của chị L, chồng chị L tên Võ Văn L cho bị cáo Trần Duy L mượn

xe nhưng không biết bị cáo L dùng phương tiện để đi lấy ma túy. Do đó, áp dụng

khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại chiếc xe trên cho chị Trần

Phương L.

Về án phí: Bị cáo Trần Duy L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là

200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1

Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự: điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ

luật tố tụng hình sự: khoản 02 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, điÓm a kho¶n

1 §iÒu 23 cña NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 quy ®Þnh vÒ

møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n

1. Tuyên bố bị cáo Trần Duy L (tên khác L. H) phạm tội “Tàng trữ trái phép

chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Trần Duy L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể

từ ngày 23/8/2021.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 460.000 đồng (số tiền này đã nộp vào kho bạc Nhà nước huyện Giồng Riềng ngày 21/9/2021); 01 điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Redmi màu đen, ốp lưng màu bạc, số seri 27282160QT03414. Bên trong điện thoại có gắn 02 sim số thuê bao 0939144787 và 0916836063, bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy 02 mẫu vật giám định được niêm phong: Mẫu 01 và mẫu

02 số 834/2021 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Hoàng Khanh và dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 cây kéo bằng kim loại, dài khoảng 15 cm, có cán bằng nhựa màu xanh; 01 lọ thủy tinh dài khoảng 12 cm, bên trên không có nắp đậy, bên trong có 01 ống hút bằng nhựa màu trắng, trên miệng chai có quấn băng keo;

- Trả lại cho chị Trần Phương L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Ware

Alpha màu trắng, biển kiểm soát 95B1-237.15, số khung RLHHC 1251FY048660; số máy HC 12E – 70482, đã qua sử dụng

4. Về án phí: Bị cáo Trần Duy L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000

đồng.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án

trong thời hạn là 15 ngày; bị cáo được tính kể từ ngày tuyên án (19/01/2022) người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết của Tòa án.

Cỡ chữ