vanban.org

Bản án 07/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 21/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Triệu Quốc V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dung điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Quốc V 24 (hai mươi bốn) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 07/10/2021 đến ngày 12/10/2021, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Quốc V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Triệu Quốc V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HSST
Ngày: 21/01/2022

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hiến Công Hanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Đức Cường và bà Triệu Thị Biên

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Du, Thư ký Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vương Đức Chính - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Triệu Quốc V (tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 24/02/1977 tại huyện N, tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Vĩnh D và con bà Lục Thị M; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 (Ngày 25/9/2019 bị TAND huyện C, Bắc Kạn xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đến nay chưa được xoá án tích); Nhân thân: Năm 2013 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc đến năm 2015 trở về địa phương. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/10/2021 đến ngày 12/10/2021, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 07/10/2021 tổ công tác Công an thị trấn B trên đường tuần tra công tác an ninh trật tự trên địa bàn quản lý, phát hiện thấy đối tượng Triệu Quốc V đang đi bộ một mình đi từ trường Trung học Phổ thông C ra hướng tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy nên tổ công tác Công an thị trấn B yêu cầu Triệu Quốc V xuất trình các đồ vật đang cất giấu trên người thì V tự nguyện đưa ra những đồ vật, tài liệu gồm:

V xuất trình từ trong túi quần phía trước bên phải của V đang mặc 01 (một) gói được gói bằng loại giấy một mặt màu trắng, một mặt có nhiều màu sắc bên trong có chứa cục và bột màu trắng; 01 (một) gói được gói bằng loại giấy có một mặt màu trắng và một mặt có nhiều màu sắc bên trong có chứa cục và bột màu trắng từ túi áo ngực bên trái V đang mặc; 04 (bốn) xi lanh 3 ml/cc chưa sử dụng và 01(một) xi lanh 3ml/cc đã sử dụng tại túi quần phía trước bên phải trên người V đang mặc. Tiến hành trích hai mẫu chất bột màu trắng trên vào thuốc thử phát hiện nhanh chất ma túy (thuốc thử Heroine). Kết quả thuốc thử chuyển sang màu tím, phản ứng dương tính với chất ma túy loại Heroine.

Cùng ngày Công an thị trấn B đã bàn giao người bị bắt cùng toàn bộ hồ sơ vụ việc để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 07/10/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp nhận và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, công trình phụ cận đối với Triệu Quốc V ở Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Qua khám xét không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C lập hồi 15 giờ 45 phút, ngày 07 tháng 10 năm 2021 xác định: Cân cả gói giấy một mặt màu trắng, một mặt có nhiều màu sắc chứa cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 có khối lượng là 0,27g (không phẩy hai bảy gam). Cân riêng cục và bột màu trắng có khối lượng là 0,09g (không phẩy không chín gam). Cân cả gói giấy một mặt màu trắng, một mặt có nhiều màu sắc chứa cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A2 có khối lượng là 0,41g (không phẩy bốn mốt gam). Cân riêng cục và bột màu trắng có khối lượng là 0,24g (không phẩy hai bốn gam). Tổng khối lượng cục và bột màu trắng ở cả hai gói giấy có khối lượng là 0,33g (không phẩy ba ba gam). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành cho cục và bột màu trắng ở 02 (hai) gói giấy trên vào 02 (hai) phong bì mới ký hiệu lần lượt là A3 và A4 để gửi giám định. Còn vỏ phong bì niêm phong ban đầu và giấy gói một mặt màu trắng một mặt nhiều màu sắc được cho vào trong phong bì mới niêm phong ký hiệu A5.

Tại Kết luận giám định số: 171/KTHS-MT ngày 10 tháng 10 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn Kết luận: “Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột màu trắng bên trong phong bì ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,09g (không phẩy không chín gam); “Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột màu trắng bên trong phong bì ký hiệu A4 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,24g (không phẩy hai bốn gam).

Quá trình điều tra, truy tố Triệu Quốc V khai nhận: 02 (hai) gói nhỏ có chứa cục và bột màu trắng mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại Heroine do V mua về với mục đích sử dụng cá nhân. Cụ thể: Vào khoảng 08 giờ ngày 07/10/2021 khi đang ở nhà thuộc tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì lên cơn nghiện ma túy, V một mình đi bộ từ nhà lên khu vực cổng Trung tâm y tế huyện C, thuộc Tổ C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về để sử dụng. Tại đây V gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) giống người nghiện ma túy nên V đã hỏi mua ma túy với người đàn ông trên với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và được người đàn ông đồng ý bán. Khoảng 10 phút sau thì V được người đàn ông trên quay lại đưa cho V 01(một) gói ma túy được bọc bằng giấy lịch một mặt màu trắng, một mặt nhiều màu sắc. Sau khi mua được ma túy V rẽ vào một hiệu thuốc ở gần cổng Trung tâm y tế mua 05 (năm) xi lanh và nước cất rồi đi bộ vào mỏ đá thuộc tổ D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, lấy gói ma túy vừa mua được ra sử dụng đi một lượng nhỏ, sau đó chia gói ma túy vừa mua được thành 02 (hai) gói nhỏ, cất vào trong người rồi đi bộ về nhà, khi đi đến đoạn đường thuộc tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Cơ quan Công an thị trấn B bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy như đã nêu ở trên.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSCĐ ngày 22/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Triệu Quốc V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Triệu Quốc V và phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Quốc V từ 24 đến 30 tháng tù.

Phạt bổ sung là phạt tiền không áp dụng đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

- Án phí: Áp dụng Điều 135 Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Bị cáo phải nộp 200.000,đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Hồi 08 giờ 00 phút ngày 07/10/2021 khu vực cổng Trung tâm y tế huyện C thuộc tổ D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn Triệu Quốc V đã có hành vi mua trái phép với một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không rõ tên địa chỉ 01 (một) gói ma tuý (heroine) với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) với mục đích để sử dụng cá nhân, sau đó đã sử dụng đi một phần. Đến hồi 11 giờ 45 phút cùng ngày khi V đang trên đường đi về nhà, đến khu vực thuộc tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Cơ quan Công an thị trấn B, huyện C bắt quả tang thu giữ trên người 0,33g (không phẩy ba ba gam) ma tuý (heroine).

Kết quả tranh tụng tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vì bản thân bị cáo có sử dụng chất ma túy nên để thoả mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn thực hiện. Hội đồng xét xử khẳng định: Hành vi tàng trữ 0,33g (không phẩy ba ba gam) ma túy, loại Heroin của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 02/CT-VKSCĐ ngày 22/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Ngày 25/9/2019 Triệu Quốc V bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đến nay chưa được xoá án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ngoài ra bị cáo có bố đẻ là Triệu Vĩnh D được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị là phù hợp, nằm trong khung hình phạt mà các bị cáo bị truy tố.

Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng”. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các bao bì liên quan đến việc niêm phong ma túy.

. Đối với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo là người đã bán ma túy Heroine cho bị cáo tại cổng Trung tâm y tế huyện C thuộc tổ D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Kết thúc điều tra bị cáo không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyên C không xem xét xử lý là đúng pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Triệu Quốc V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

1. Áp dung điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Quốc V 24 (hai mươi bốn) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 07/10/2021 đến ngày 12/10/2021, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì đã được niêm phong dán kín theo quy định ký hiệu T171 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C (bên trong phong bì có chứa 0,27 gam cục và bột màu trắng là ma túy loại Heroine cùng phong bì và bao gói cũ niêm phong ban đầu ký hiệu A3, A4).

- 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu A5 (bên trong chứa giấy gói và vỏ phong bì niêm phong ban đầu A1).

- 04 (bốn) xi lanh nhựa loại 03ml/cc chưa qua sử dụng và 01 (một) xi lanh nhựa loại 3ml/cc đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/12/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Bị cáo phải nộp 200.000,đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

"Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự ".

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ